CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHAT LUONG DỊCH VU VA LONG TRUNG THÀNH CUA KHACH HANG 1.1 Khai quat vé dich vu 1.1 Một số khái niệm dich vu Có nhiều quan điểm và cách định nghĩa khác nhau về khái niệm dịch vụ. Cũng giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ (sản phẩm vô hình) là kết quả đầu ra của một quá trình hay một hoạt động nào đó. + Theo Zeithaml và Bitner (2009), dich vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. + Philip Kotler [4,tr522] cho rằng: “ Dịch vụ là mọi hành động va kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thé có hay không gan liền với một sản phẩm vật chất” + Một số học giả định nghĩa các dịch vụ là quy trình sản xuất và tiêu thụ với sự tham gia của khách hàng trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ các dịch vụ (Edvardsson, 2005) hay là các trải nghiệm về cách thức làm hài lòng khách hàng (Tyagi và Gupta, 2008). Dich vụ có thể được xem như một loạt các giao dịch/tương tác với đầu vào và đầu ra. Đầu vào dịch vụ có thể được xem như các tiếp XÚC VỚI khách hàng, hệ thống, kỹ năng giao tiếp và môi trường làm việc. Đầu ra của một dịch vụ có thé được xem là giao dịch thực hiện thành công cho một khách hàng.
+ Theo ISO 8402: Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng dé đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Như vậy có thể thấy dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tô bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyên.2 Đặc điểm của dịch vụ Giống như sản phẩm hữu hình, dịch vụ cũng có những đặc điểm riêng của mình. Dé có thé quản lý chất lượng dịch vụ một cách hữu hiệu nhất, các nhà quản trị cần thiết phải nắm vững các đặc điểm riêng có của chất lượng dịch vụ, từ đó rút ra được các phương sách phù hợp dé tiến hành kinh doanh dich vụ một cách tốt nhất. Dịch vụ có một số đặc điểm sau đây: Thứ nhất, dịch vụ mang tính vô hình : Không giéng như sản phẩm vật chat, có nhiều dịch vụ không thể nhìn thay được, không nêm được, không nghe thay được hay không ngửi thấy được trước khi người ta mua chúng.
Để giảm bớt mức độ không chắc chắn, người mua sẽ tìm kiếm các dấu hiệu hay bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Họ sẽ đánh giá về chất lượng dịch vụ từ địa điểm, con người, trang thiết bị, tài liệu, thông tin, biểu tượng và giá cả mà họ thấy. Do dịch vụ có tính vô hình nên các nhà cung cấp dịch vụ thường cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức như thé nào về dich vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ (Robinson, 1999). Thứ hai, dịch vụ có tính không đồng nhất: Đặc tính này cũng thường được xem như là sự khác biệt của dịch vụ so với các sản phẩm công nghiệp.
Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vu. Đặc tính nay thể hiện rõ nhất đối với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao, bởi việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bao (Caruana và Pitt, 1997). Thứ ba, dịch vụ có đặc tính không thế tách rời: Tính không thê tách rời của dich vụ thé hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi: giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Dịch vụ thường được tạo ra va sử dụng đồng thời.
Điều này không giống với hàng hóa vật chất. Hàng hóa vật chất được sản xuất ra, nhập kho, phân phối thông qua nhiều nắc trung gian mua bán, rồi sau đó mới được tiêu dùng. Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng, còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ. Khi đó, chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên cung cấp dịch vụ của công ty.
Đối với những dịch vụ đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiến trực tiếp của người tiêu dùng như dịch vụ chăm sóc cá nhân, khám chữa bệnh thì công ty dịch vụ rất khó thực hiện việc kiểm soát, quản trị về chất lượng vì người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến quá trình và kết quả cung cấp dịch vụ. Thứ tr, dich vụ có đặc tính không thể lưu giữ được: Dịch vụ không thé cất giữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không phải là van đề khi nhu cầu 6n định. Tuy nhiên, khi nhu cầu thay đổi, các nhà cung cấp dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh của họ.
Ví dụ, các công ty vận tải công cộng phải có nhiều phương tiện hon dé đảm bảo phục vụ cho nhu cầu vào những giờ cao điểm so với số lượng cần thiết theo nhu cầu bình thường trong suốt cả ngày dé đảm bảo phục vụ cho nhu cầu vào những giờ cao điểm. Thứ năm, sự tham gia của khách hàng: Khi sử dụng dịch vụ, khách hàng thường tham gia trực tiếp vào quá trình cung cấp dịch vụ. Ví dụ như việc khách hàng sẽ tương tác đến quá trình cung cấp dịch vụ cho chính mình đối với các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc bản thân. Sự hiện diện của khách hàng như là người tham gia trong quá trình dich vụ doi hỏi sự chú ý đặc biệt đến việc thiết kế bố trí mặt bằng điểm giao dịch, điều không thể thấy ở hoạt động sản xuất truyền thống.
Chất lượng của dịch vụ sẽ được nâng cao nếu mặt bằng và quy trình của cơ sở dịch vụ được thiết kế và bài trí dựa trên quan điểm của khách hàng. Sự chú ý đến trang trí bên trong, trang thiết bị, cách trưng bày, âm thanh và thậm chí màu sắc bên trong có thể ảnh hưởng đến nhận thức của khách hàng về dịch vụ (Fitzsimmons và Fitzsimmons, 2008).3 Phân loại dịch vụ 1.1 Phân loại dịch vụ theo quá trình cung cấp Fitzsimmons va Fitzsimmons (2008) đã giới thiệu một ma trận quá trình dịch vụ trong đó, dịch vụ được phân loại theo hai khía cạnh ảnh hưởng đáng ké đến đặc điểm của quá trình cung cấp dịch vụ. Trục chiều dọc phản ánh mức độ lao động, thường được tinh theo tỷ lệ chi phí lao động/tông chi phí kinh doanh. Các dich vụ sử dụng nhiều vốn như hàng không, bệnh viện được xếp ở nhóm hàng trên cùng bởi sự đầu tư đáng kế vào nhà xưởng, thiết bị cao hơn nhiều so với chi phí lao động.
Các dịch vụ sử dụng nhiều lao động như trường học và hỗ trợ pháp luật được xếp 0 nhóm dưới bởi chi phí lao động của ho cao hơn nhiều so với yêu cầu chi phí vốn. Trục chiều ngang phản ánh mức độ tương tác và chuyên biệt hóa theo yêu cầu khách hàng, đây là một biến số của marketing mô tả khả năng khách hàng ảnh hưởng tới bản chất của dịch vụ được cung cấp. Sự ít tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ cho phép khả năng dịch vụ được tiêu chuẩn hóa cao. Sự tương tác cao giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ cho thấy tính chuyên biệt hóa theo yêu cầu khách hàng đối với dich vụ cao.2 Phân loại dịch vụ theo tính chất của hoạt động dịch vụ Cũng theo Fitzsimmons va Fitzsimmons (2008), hoạt động dich vụ có thé được đánh giá qua 2 khía cạnh: Ai/cai gi là đối tượng dịch vụ tác động trực tiếp và tính vô hình/hữu hình của dịch vụ.
Cách tiếp cận này giúp chúng ta phân loại ra 4 loại hình dịch vụ: - Hoạt động hữu hình trực tiếp tới cá nhân khách hàng (dịch vụ vận tải hành khách và chăm sóc cá nhân) - Hoat động hữu hình trực tiếp tới tài sản khách hàng (dich vụ giặt là, lau don và chăm nom nhà cửa) - Hoạt động vô hình trực tiếp đến nhận thức của khách hang (dich vụ giải trí) - Hoạt động vô hình thực hiện đối với tài sản của khách hàng (dịch vụ tải chính, bảo hiểm).3 Phân loại dịch vụ theo sự chuyên biệt theo yêu câu khách hàng và mức độ tiếp xúc giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ Fitzsimmons va Fitzsimmons (2008) nhấn mạnh đến quan hệ giữa sự chuyên biệt hóa (customization) đáp ứng yêu cầu khách hàng và mức độ tiếp xúc giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng.4 Phân loại theo mối quan hệ với khách hàng Các công ty dịch vụ có cơ hội xây dựng mối quan hệ lâu dài bởi khách hàng thực hiện giao dịch trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ, thường xuyên nhất là trực tiếp cá nhân. Ngược lại, các nhà sản xuất truyền thống bị tách rời xa với khách hàng cuối cùng/người sử dụng sản phâm bởi hệ thống phân phối (nhà cung cấp, nhà bán buôn và bán lẻ). Mối quan hệ dài hạn tạo ra sự hiểu biết về khách hàng của mình thường được xem là một lợi thế cạnh tranh đáng kế đối với công ty dịch vụ (Fitzsimmons va Fitzsimmons, 2008). Lovelock (1983) đã đối chiếu tính chất của mỗi quan hệ khách hàng với tinh chất của cung ứng dịch vụ.
Trong đó, có 2 mối quan hệ chính thức và không chính thức giữa công ty và khách hàng, đồng thời tính chất cung ứng có 2 dạng là liên tục và không liên tục.5 Phân loại dịch vụ theo tinh chất của nhu cầu và khả năng Đặc tính không lưu giữ được của dịch vụ gây ra thách thức cho nhà quản trị dịch vụ trong việc xác định công suất địch vụ và duy tri sự ồn định quá trình cung cấp dịch vụ nhằm thỏa mãn khách hàng. Đặc tính không lưu giữ được của dịch vụ gây ra sự mat cần bằng giữa cung và cau trong quá trình cung cấp dịch vụ và sự mat cân bằng này biểu hiện khác nhau giữa các lĩnh vực công nghiệp dịch vụ khác nhau.