Chương 1: Tổng quan các nhân tố tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại cổ phần và mô hình nghiên cứu. Chương 2: Phân tích thực trạng các nhân tố tác động đến quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại cổ phần khu vực TP. Hồ Chí Minh. Chương 3: Giải pháp thu hút khách hàng cá nhân gửi tiền tại các ngân hàng thương mại cổ phần khu vực TP.Hồ Chí Minh.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về dịch vụ nhận tiền gửi của ngân hàng thƣơng mại 1. Dịch vụ nhận tiền gửi của ngân hàng thƣơng mại 1. Dịch vụ ngân hàng thƣơng mại - Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất.
Theo Philip Kotler thì: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Dịch vụ có các tính sau: Tính vô hình: Phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình. Dịch vụ không thể sờ mó hay nắm bắt được, không có hình dạng cụ thể như một sản phẩm.
Do vậy, dịch vụ không thể được đánh giá bằng các giác quan cơ thể trước khi mua nó Tính không đồng nhất: Các dịch vụ không ổn định (thể hiện ở chất lượng dịch vụ), vì chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào người thực hiện dịch vụ, thời gian và địa điểm thực hiện dịch vụ đó. Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường được sản xuất ra và tiêu dùng đi đồng thời. Nếu dịch vụ do một người thực hiện, thì người cung ứng là một bộ phận của dịch vụ đó. Cả người cung ứng lẫn khách hàng đều ảnh hưởng đến kết quả của dịch vụ.
Tính không lưu trữ được: không lập kho để lưu trữ như hàng hóa được hoạt động cung cấp dịch vụ thường được ấn định về mặt thời gian và không gian và có một công suất phục vụ được ấn định trong ngày. Điều này có nghĩa là nếu không bán được công suất dịch vụ vào ngày đó thì doanh thu tiềm năng có thể thu được từ công suất dịch vụ đó sẽ mất đi và không thể thu lại được. Công suất chỉ trở nên hữu dụng khi khách hàng hiện diện tại địa điểm của nhà cung cấp dịch vụ. 5 Tính mau hỏng: Mỗi dịch vụ chỉ tiêu dùng một lần duy nhất, không lặp lại, dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian và không gian.
- Theo WTO, trong bảng phân loại các dịch vụ của Tổ chức thương mại thế giới, dịch vụ tài chính được xếp vào phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ. Trong đó, dịch vụ tài chính bao gồm: dịch vụ bảo hiểm và các dịch vụ liên quan đến bảo hiểm; dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác; dịch vụ chứng khoán. Dịch vụ ngân hàng bao gồm: Nhận tiền gửi và các khoản phải trả từ công chúng Cho vay dưới hình thức, bao gồm: Tín dụng tiêu dùng, tín dụng cầm cố thế chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch thương mại Thuê mua tài chính Môi giới tiền tệ Quản lý tài sản: Quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư; mọi hình thức quản lý đầu tư tập thể; quản lý quỹ hưu trí; các dịch vụ lưu ký và tín thác Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, bao gồm: Chứng khoán, các sản phẩm phái sinh và các công cụ chuyển nhượng khác Cung cấp và chuyển thông tin tài chính và xử lý dữ liệu tài chính cũng như cung cấp các phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác Các dịch vụ tư vấn và trung gian môi giới, các dịch vụ tài chính phụ trợ khác, kể cả tham chiếu và phân tích tín dụng, nghiên cứu tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư vấn về mua lại và tái cơ cấu chiến lược doanh nghiệp Từ những nội dung trên tác giả đưa ra khái niệm về dịch vụ ngân hàng như sau: dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính, là các dịch vụ tài chính gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, được ngân hàng thực hiện nhằm tìm kiếm lợi nhuận, và chỉ có các ngân hàng với ưu thế của nó mới có thể cung cấp các dịch vụ này một cách tốt nhất cho khách hàng. Dịch vụ nhận tiền gửi 6 Nhận tiền gửi là một trong những loại hình dịch vụ tài chính ở ngân hàng.
Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng dưới nhiều hình thức khác nhau. Theo Khoản 13 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Tiền gửi tiết kiệm: Đây là hình thức tiền gửi của các tầng lớp dân cư có các khoản tiền nhàn rỗi, tích lũy để dành gửi vào ngân hàng với thời gian cụ thể, mục đích sinh lời. Đây là nguồn vốn quan trọng và chủ yếu cho ngân hàng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 của Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN: tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Đối với hình thức này, khách hàng là các cá nhân, gửi tiền tiết kiệm khi đến hạn, ngoài khoản tiền gốc họ còn nhận được phần tiền lãi tùy theo lãi suất từng ngân hàng. Đặc điểm của gửi tiền tiết kiệm là chỉ có thể rút tiền sau một thời gian nhất định. Nếu rút tiền trước hạn, khách hàng chỉ được tính lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cho thời gian thực gửi.
Phân loại tiền gửi tiết kiệm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (theo quy định tại Khoản 8 Điều 6 của Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn) Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn như sau: 7 Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai. Điểm khác biệt của hình thức tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn với tiền gửi thanh toán (tiền gửi cá nhân) là khi rút tiền khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm và chỉ được thực hiện các giao dịch gửi và rút tiền chứ không thể thực hiện các giao dịch thanh toán như tài khoản tiền gửi thanh toán. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Theo quy định tại Khoản 8 Điều 6 của Quy chế về tiền gửi tiết kiệm ban hành kèm theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN: tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Đặc điểm của loại hình tiền gửi này như sau: Khách hàng gửi tiền nhàn rỗi trong một thời gian dài, thông thường loại hình này được hưởng lãi suất cao.
Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán, nhưng có thể thế chấp vay vốn nếu được ngân hàng cho phép. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường được hưởng lãi suất cố định. Tuy nhiên, giữa các loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau thì lãi suất sẽ được trả khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn với thời hạn càng lâu, lãi suất sẽ càng cao.
Đối tượng khách hàng là các cá nhân có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý, vì thế khách hàng có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối với tiền gửi tiết kiệm có lỳ hạn, khách hàng không được phép rút tiền trước hạn. Tuy nhiên, để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền, ngân hàng 8 cho phép được rút tiền trước hạn nếu khách có nhu cầu, nhưng khách hàng chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc theo thời hạn thực tế. Tiền gửi tiết kiệm khác: Ngoài hai loại tiền gửi tiết kiệm chính là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, đa số các NHTM đều thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác như: tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với nét đặc trưng riêng nhằm làm mới sản phẩm và tạo sự khác biệt với đồi thủ cạnh tranh.
Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút ra khi đáo hạn. Do đó, tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn hoạt động có sự ổn định tương đối cao của ngân hàng. Đồng thời, khách hàng gửi tiền nhằm mục đích hưởng lãi, nên lãi suất đối với loại tiền gửi này thường hấp dẫn và tùy theo độ dài của kỳ hạn. Tuy nhiên trong trường hợp bình thường các ngân hàng vẫn cho khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn hoặc hưởng lãi có kỳ hạn tương ứng với kỳ hạn thực tế.
Khác với loại hình tiền gửi tiết kiệm có đối tượng là khách hàng cá nhân, đối tượng sử dụng loại dịch vụ tiền gửi có kỳ hạn có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Khác với hình thức gửi tiền tiết kiệm, khách hàng là các cá nhân có nhu cầu và đối với tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng có thể là các tổ chức hoặc cá nhân có nhu cầu.