Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức là một nội dung lý luận và thực tiễn có ý nghĩa chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc, là lực lượng không thể thiếu trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như công cuộc kiến thiết, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kế thừa quan điểm đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã xác định mục tiêu đến năm 2020 xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, có cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Tại huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa), công tác phát triển nguồn nhân lực và chăm lo cho tầng lớp trí thức trong giai đoạn 2005 - 2010 đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, thực tế địa phương vẫn bộc lộ những hạn chế: một bộ phận cán bộ cấp ủy và chính quyền chưa nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của trí thức; việc bố trí, sử dụng cán bộ đôi lúc chưa tương xứng với trình độ chuyên môn; việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác trí thức còn thiếu tính hệ thống và đôi khi mang tính hình thức. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức ở huyện Quảng Xương (Thanh Hóa) hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh" được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn tại địa phương.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức và phân tích thực trạng đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương, đề xuất phương hướng và hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa địa phương.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Trình bày khái quát nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
    • Phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm, thực trạng số lượng, cơ cấu, trình độ và xu hướng vận động của đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương giai đoạn 2005 - 2010.
    • Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm phát triển đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương theo ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, phát triển trí thức và thực trạng đội ngũ trí thức trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về lý luận: Hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức.
    • Về không gian và thời gian: Địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; tập trung khảo sát số liệu và thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức. Các văn kiện pháp lý và tài liệu chính trị chủ chốt được tác giả vận dụng gồm có: Cương lĩnh chính trị của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X của Đảng, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa và Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Quảng Xương lần thứ XXIV (nhiệm kỳ 2010 - 2015).

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành và liên ngành:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét sự hình thành, phát triển của đội ngũ trí thức trong mối liên hệ mật thiết với điều kiện kinh tế - xã hội và lịch sử cụ thể của địa phương.
  • Phương pháp lịch sử và logic: Kết hợp nghiên cứu tiến trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức qua các thời kỳ cách mạng với quá trình phát triển thực tế của trí thức huyện Quảng Xương từ truyền thống khoa bảng đến hiện đại.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Hệ thống hóa các nguồn tư liệu lý luận, văn kiện Đảng, tài liệu lưu trữ và các công trình nghiên cứu đi trước về trí thức.
  • Phương pháp so sánh và thống kê: Đối chiếu các chỉ tiêu giáo dục, tỷ lệ trường chuẩn, tỷ lệ trí thức trên tổng dân số của huyện Quảng Xương với các huyện lân cận như Hoằng Hóa, Nga Sơn, Nông Cống; xử lý số liệu thống kê về cơ cấu trình độ học vấn.
  • Phương pháp điều tra thực tế (phiếu hỏi): Khảo sát ý kiến của cán bộ, đảng viên và đội ngũ trí thức tại huyện Quảng Xương về nhận thức và mức độ quan tâm đối với công tác xây dựng đội ngũ trí thức.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm: các tác phẩm trong Hồ Chí Minh Toàn tập, văn kiện đại hội Đảng bộ các cấp, tài liệu từ Đông Khánh địa dư chí, Địa chí Thanh Hóa, số liệu thống kê chính thức từ Phòng Thống kê huyện Quảng Xương (thời điểm tháng 7/2010) và báo cáo của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Quảng Xương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức

Chương 1 tập trung làm rõ hệ thống quan điểm lý luận toàn diện của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầng lớp trí thức, bao gồm định nghĩa, vị trí chiến lược, tiêu chuẩn và phương thức lãnh đạo đối với trí thức.

  • Quan niệm về trí thức: Tác giả phân tích định nghĩa của Hồ Chí Minh: "Trí thức là hiểu biết". Theo Người, hiểu biết nhân loại gồm hai lĩnh vực chính: hiểu biết về đấu tranh sinh sản (khoa học tự nhiên) và hiểu biết về đấu tranh dân tộc, đấu tranh xã hội (khoa học xã hội). Người chỉ rõ người học xong đại học nếu không biết áp dụng tri thức vào công việc thực tế, không biết lao động sản xuất thì mới chỉ có "trí thức một nửa". Muốn thành người trí thức hoàn toàn thì phải đem lý luận áp dụng vào thực tiễn đời sống.
  • Vai trò, vị trí của trí thức:
    • Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân: Hồ Chí Minh khẳng định trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước nồng nàn, có ý thức dân tộc cao và là một bộ phận không thể tách rời của lực lượng cách mạng. Người nhấn mạnh công nông là gốc của cách mạng, nhưng cách mạng rất cần trí thức và lao động trí óc giữ vai trò quan trọng, vẻ vang. Người đã sớm tổ chức đào tạo trí thức cách mạng (lớp huấn luyện chính trị tại Quảng Châu năm 1925 với hơn 200 học viên), lập Hội Văn hóa Cứu quốc (1944) và phát huy vai trò nhân sĩ, trí thức trong Mặt trận Việt Minh.
    • Trong kháng chiến kiến quốc và cách mạng xã hội chủ nghĩa: Trí thức giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, văn hóa và kỹ thuật. Hồ Chí Minh đã ban hành "Chỉ thị tìm người tài đức" (1946), khẳng định kiến thiết cần có nhân tài và kêu gọi trí thức cả nước đóng góp sáng kiến. Người chỉ rõ xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải đẩy mạnh khoa học - kỹ thuật, đào tạo cán bộ chuyên môn và xây dựng khối liên minh công - nông - trí bền vững.
  • Nội dung xây dựng đội ngũ trí thức:
    • Mục tiêu: Đào tạo đội ngũ trí thức "vừa hồng vừa chuyên", có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Tổ quốc và nhân dân.
    • Tiêu chuẩn: Trí thức phải gắn liền lý luận với thực hành; phải có đạo đức cách mạng ("cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư", "tận trung với nước, tận hiếu với dân"); phải thực hiện tự học suốt đời; phải được "công nông hóa" (gần gũi quần chúng lao động để rèn luyện lập trường) song song với "công nông trí thức hóa".
    • Lãnh đạo và quản lý: Phải nhìn nhận trí thức khách quan, không định kiến; có chính sách trọng dụng và đãi ngộ thỏa đáng; tôn trọng dân chủ, đảm bảo tự do tư tưởng và tự do sáng tạo khoa học để trí thức phát huy tối đa năng lực cống hiến.

Chương 2: Xây dựng đội ngũ trí thức huyện Quảng Xương - Thanh Hóa dưới sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh

Chương 2 đi sâu khảo sát thực tiễn tự nhiên, kinh tế - xã hội, lịch sử văn hóa và thực trạng phát triển đội ngũ trí thức tại huyện Quảng Xương giai đoạn 2005 - 2010.

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội:
    • Huyện Quảng Xương nằm ở phía Nam tỉnh Thanh Hóa, diện tích tự nhiên 227,6 km² (chiếm 2,5% diện tích toàn tỉnh), dân số năm 2010 là 259.093 người (chiếm 7,4% dân số tỉnh), mật độ dân số đạt 1.136 người/km² (cao hơn mức bình quân 318 người/km² của tỉnh). Huyện có 22 km bờ biển chạy dọc từ sông Đơ đến cửa sông Ghép.
    • Giai đoạn 2005 - 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 13,3%/năm (vượt giai đoạn 2000 - 2005 là 2,3%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch: Nông - lâm - thủy sản chiếm 40,0%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 27,2%; Dịch vụ - thương mại chiếm 32,8%. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 12,2 triệu đồng/năm.
    • Hạ tầng xã hội: 100% xã có đường ô tô; hơn 60 km đường rải nhựa; 65% diện tích tưới tự chảy; 85% dân số dùng nước hợp vệ sinh; 99% hộ dùng điện lưới quốc gia. Toàn huyện có 354/397 làng đạt chuẩn làng văn hóa (89,1%), 80% số hộ đạt gia đình văn hóa; 14/41 xã và 351/397 thôn không có tội phạm.
  • Đặc điểm truyền thống và danh nhân trí thức Quảng Xương:
    • Theo Đông Khánh địa dư chí, người dân Quảng Xương cần cù, có truyền thống "người đi học và cày ruộng nhiều". Dù điều kiện đất đai chua mặn khai phá muộn, lịch sử ghi nhận thời Hậu Lê có 8 vị đại khoa đỗ đạt: Lê Mệnh Dự (Tiến sĩ Chế khoa Giáp Dần 1554), Hoàng Quốc Thực (Hoàng giáp 1565), Nguyễn Văn Khuê (Hoàng giáp 1610), Nguyễn Hữu Thượng (Hoàng giáp 1637), Nguyễn Đình Chính (Tiến sĩ 1652), Nguyễn Công Bích (Bảng nhãn 1659), Nguyễn Mỹ Tài (Tiến sĩ 1670), Trương Hữu Hiệu (Tiến sĩ 1676) và Trạng nguyên Trịnh Huệ (1736).
    • Vùng đất gắn liền với tên tuổi các danh nhân: Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật, Nhạc Quận công Bùi Sĩ Lâm. Thời hiện đại, huyện có nhiều tướng lĩnh và nhà khoa học tiêu biểu như GS. Nguyễn Xuân Nguyên (ngành Mắt với hơn 100 công trình), GS. Nguyễn Xuân Hiền, GS. Đái Xuân Ninh, Kỹ sư Đái Xuân Du và GS.VS.TS. Đái Duy Ban.
  • Nhận thức và chủ trương phát triển trí thức:
    • Kết quả khảo sát thực tế cho thấy 95% trí thức được hỏi nhận thức rõ tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ trí thức đối với sự phát triển nhanh, bền vững; 3% cho rằng không cần thiết; số còn lại không quan tâm hoặc chưa rõ.
    • Đảng bộ huyện khóa XXIV đã đưa nhiệm vụ "Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực" thành một trong bốn chương trình kinh tế - xã hội trọng tâm giai đoạn 2010 - 2015.
  • Thực trạng quy mô, cơ cấu và giáo dục - đào tạo:
    • Giáo dục: 100% số xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS. 100% giáo viên các cấp đạt chuẩn, trong đó có 38,9% đạt trên chuẩn. Đến năm học 2009 - 2010 có 49 trường đạt chuẩn quốc gia (tỷ lệ 39,2%, tăng 17,2% so với năm 2005). Tỷ lệ tốt nghiệp THPT tăng dần: năm học 2007 - 2008 đạt 76%, năm 2008 - 2009 đạt 81%, năm 2009 - 2010 đạt 85%. Giai đoạn 2001 - 2009 có 6.268 học sinh đỗ đại học (trong đó có 2 thủ khoa, 2 á khoa); giai đoạn 2006 - 2010 có 7.015 em đỗ đại học, cao đẳng (tăng bình quân 11%/năm). Quỹ khuyến học toàn huyện huy động được trên 7 tỷ đồng, trao thưởng hơn 90.000 lượt giáo viên và học sinh.
    • Cơ cấu đội ngũ trí thức:
Trình độ đào tạo Số lượng (người) Ghi chú
Tiến sĩ 3 Con em Quảng Xương (2005 - 2010)
Thạc sĩ 35 Con em Quảng Xương (2005 - 2010)
Đại học 5.598 Con em Quảng Xương (2005 - 2010)
Cao đẳng 2.205 Không tính trung cấp và trường nghề
Tổng cộng 7.841 Chiếm 3,0% dân số toàn huyện

(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Quảng Xương, tháng 7/2010)

So sánh tương quan, tỷ lệ trí thức trên tổng dân số của huyện Quảng Xương (3,0%) cao hơn huyện Nông Cống (2,7%). Tỷ lệ con em trí thức đang học tập và làm việc tại nước ngoài chiếm khoảng 0,01% tổng số trí thức của huyện.

  • Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ trí thức:
    • Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí của trí thức theo quan điểm Hồ Chí Minh.
    • Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức gắn với nhu cầu thực tiễn của sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn.
    • Thực hiện chính sách trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng, tạo môi trường làm việc dân chủ, khuyến khích tự do tư tưởng và sáng tạo khoa học.
    • Tiếp tục phát triển mạng lưới trường lớp, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và giáo dục mũi nhọn, đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh các kết quả thực tiễn nổi bật về công tác trí thức tại huyện Quảng Xương giai đoạn 2005 - 2010:

  • Hệ thống hóa đầy đủ số liệu về nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng, đại học trở lên của huyện với tổng số 7.841 người (gồm 3 Tiến sĩ, 35 Thạc sĩ, 5.598 Cử nhân/Kỹ sư đại học, 2.205 Cao đẳng), chiếm tỷ lệ 3,0% dân số.
  • Phản ánh thành tựu trong chuẩn hóa đội ngũ sư phạm (100% giáo viên đạt chuẩn, 38,9% trên chuẩn) và mạng lưới trường chuẩn quốc gia (49 trường, đạt 39,2%).
  • Khảo sát thực tế định lượng cho thấy sự đồng thuận cao (95%) của cán bộ và trí thức đối với vị trí, vai trò của công tác phát triển trí thức.

Về mặt khoa học và thực tiễn, tác giả tự nêu các đóng góp của đề tài:

  • Khóa luận là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách đồng bộ, có hệ thống việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu và luận cứ khoa học thực chứng giúp Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương và các phòng ban liên quan tham khảo trong việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực và sử dụng trí thức tại địa phương.
  • Làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, học tập và giảng dạy các chuyên đề về Tư tưởng Hồ Chí Minh và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thực trạng trong khóa luận tập trung chủ yếu vào giai đoạn 2005 - 2010, nguồn số liệu về trình độ chuyên gia phân bố chủ yếu theo bằng cấp con em địa phương mà chưa phân tách chi tiết số lượng trí thức đang trực tiếp làm việc tại các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn huyện so với số lượng công tác ngoài huyện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát cơ cấu trí thức theo từng ngành nghề kinh tế - kỹ thuật đặc thù (nông nghiệp, thủy sản, y tế, giáo dục); đánh giá hiệu quả chuyển giao khoa học - công nghệ của trí thức vào sản xuất thực tế tại huyện trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên: Chuyên ngành Giáo dục chính trị, Chính trị học, Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, Luật học khi nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách xây dựng khối liên minh công - nông - trí.
  • Cán bộ quản lý địa phương: Ban Tuyên giáo, Phòng Nội vụ, Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp huyện tham khảo các đề xuất về chính sách đãi ngộ, quy hoạch đào tạo và phát huy vai trò trí thức trong phát triển nông thôn mới.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống trích dẫn tư liệu Hồ Chí Minh về trí thức ở Chương 1 và bảng thống kê thực trạng số liệu giáo dục, nguồn nhân lực huyện Quảng Xương ở Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh được tác giả trình bày, thế nào là một người "trí thức hoàn toàn"?
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích dẫn trong Chương 1, tri thức gồm hiểu biết về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Một người học xong đại học nếu chỉ có tri thức sách vở mà không biết làm việc thực tế thì mới chỉ là "trí thức một nửa". Muốn trở thành "người trí thức hoàn toàn", người đó bắt buộc phải biết đem tri thức lý luận áp dụng vào hoạt động thực tiễn nhằm mang lại hiệu quả cho xã hội.

2. Tỷ lệ trí thức trên tổng dân số của huyện Quảng Xương giai đoạn 2005 - 2010 là bao nhiêu và so sánh với huyện lân cận như thế nào?
Theo số liệu thống kê tháng 7/2010 từ Phòng Thống kê huyện Quảng Xương, tổng số trí thức có trình độ từ cao đẳng trở lên là 7.841 người trên tổng số 259.093 dân, chiếm tỷ lệ 3,0% dân số. Tỷ lệ này cao hơn so với huyện Nông Cống (2,7%).

3. Lịch sử khoa bảng huyện Quảng Xương thời Hậu Lê ghi nhận bao nhiêu vị đỗ đại khoa và ai là người đầu tiên?
Thời Hậu Lê, huyện Quảng Xương có 8 vị đỗ đại khoa (thấp hơn Hoằng Hóa 36 người, Đông Sơn 28 người, Nông Cống 28 người). Người đầu tiên đỗ đại khoa của huyện là Lê Mệnh Dự, đỗ Tiến sĩ Chế khoa Giáp Dần (năm 1554) dưới triều vua Lê Trung Tông.

4. Kết quả khảo sát nhận thức của cán bộ và trí thức huyện Quảng Xương về công tác xây dựng đội ngũ trí thức đạt tỷ lệ như thế nào?
Kết quả điều tra thực tế bằng phiếu hỏi cho thấy có 95% số người được hỏi khẳng định việc xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của huyện; 3% cho rằng không cần thiết; số còn lại chưa quan tâm hoặc không nắm rõ.

5. Cơ cấu trình độ học vấn của đội ngũ trí thức con em huyện Quảng Xương giai đoạn 2005 - 2010 gồm những số liệu nào?
Trong tổng số 7.841 trí thức được thống kê, cơ cấu phân theo trình độ gồm có: 3 Tiến sĩ, 35 Thạc sĩ, 5.598 người có trình độ Đại học và 2.205 người có trình độ Cao đẳng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Văn Tùng đã hệ thống hóa sâu sắc di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò và phương thức xây dựng đội ngũ trí thức cách mạng. Trên cơ sở khảo sát toàn diện điều kiện kinh tế - xã hội và số liệu thực trạng giáo dục, nhân lực huyện Quảng Xương giai đoạn 2005 - 2010, công trình đã làm rõ những ưu điểm cùng hạn chế trong công tác cán bộ trí thức tại địa phương. Các định hướng và giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh với yêu cầu phát triển thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao tại huyện Quảng Xương.