CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm của Doanh nghiệp xây lắp 1. Khái niệm doanh nghiệp xây lắp: Doanh nghiệp xây lắp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực thi công xây lắp theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện sản xuất kinh doanh [19] 1.
Đặc điểm của doanh nghiệp xây lắp: Quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp khác với các sản phẩm thông thường khác, Sản phẩm xây lắp gắn kết với các yếu tố kinh tế kỹ thuật riêng biệt, và chịu sự chi phối của công tác tư vấn, giám sát, quản lý điều hành. Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp xây lắp được thể hiện qua các yếu tố sau: *) Đặc điểm về sản phẩm xây lắp: - Sản phẩm xây lắp thường có qui mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc do sản phẩm đựơc thiết kế riêng cho từng sản phẩm theo yêu cầu của người sử dụng, chi phí xây dựng của mỗi sản phẩm cũng khác nhau, chu 4 kỳ thực hiện dài, vốn đầu tư lớn, vòng quay vốn chậm, dẫn đến thiếu vốn, thi công nhiều khi bị gián đoạn, kéo dài, gây ứ đọng vốn, dẫn đến thất thoát và lãng phí, do vậy đòi hỏi công tác quản lý giám sát tài chính phải có kế hoạch, năng lực thi công đủ đáp ứng yêu cầu tiến độ của từng hạng mục, từng công trình, rút ngắn thời gian thi công, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. - Sản phẩm xây lắp được hình thành tại nhiều địa điểm xây dựng thi công khác nhau, chịu ảnh hưởng của điều kiện về thiên nhiên, địa chất, khí hậu, vùng miền, và khó di dời,có tính cố định, thường nơi thi công xây lắp cũng là nơi tiêu thụ và sử dụng sản phẩm. Với đặc điểm trên các DNXL thường phải di chuyển các yếu tố lao động (con người) và tư liệu lao động (máy móc, thiết bị, phương tiện ) đến nơi sản xuất.
Đây cũng là điểm khác biệt nhất của các DNXL đối với các loại hình doanh nghiệp khác, đó là việc phát sinh các chi phí vận chuyển , di dời, các xí nghiệp di động ( các lán trại, nhà tạm.) Chất lượng , giá cả của sản phẩm và hiệu quả của DNXL bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố tự nhiên tác động gây ra các rủi ro không lường trước được. Vì vậy các DNXL phải lập tiến độ thi công và tổ chức thi công hợp lý, có phương án dự phòng để hạn chế khắc phục các rủi ro do yếu tố thiên tai ( như mua bảo hiểm, bảo quản và sử dụng nguyên nhiên vật liệu hợp lý) góp phần quản lý hiệu quả chi phí thi công. - Giá của sản phẩm xây lắp thường theo giá trị dự toán được duyệt hoặc giá trị quyết toán công trình hoặc giá thỏa thuận với chủ đầu tư thông qua hình thức đấu thầu, vì vậy để tính toán hiệu quả chi phí đầu vào đầu ra, DNXL phải lập dự toán chi phí và giá thành, hạch toán chi phí theo từng hạng mục, từng gói thầu, theo từng giai đoạn của hạng mục công trình để quản lý chặt chẽ chi phí, tránh lãng phí thất thoát, hoặc không tính đủ chi phí dẫn đến Doanh nghiệp có thể bị thua lỗ. 5 - Sản phẩm xây lắp đáp ứng cho rất nhiều nhu cầu sử dụng khác nhau, từ nhu cầu tiêu dùng đến nhu cầu phục vụ cho hoạt dộng sản xuất kinh doanh, với đặc điểm nêu trên, trong quá trình sử dụng sản phẩm hầu hết sản phẩm xây lắp đuợc tính vào Tài sản cố định để đầu tu, khai thác, sử dụng và trích khấu hao, vì vậy hiệu quả đầu tu của các ngành, các tổ chức kinh tế phụ thuộc rất lớn vào chất luợng của sản phẩm xây lắp.
Đặc điểm về tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp xây lắp: - Các DNXL hoạt động sản xuât kinh doanh theo tinh chất đặc thù riêng có của ngành, chỉ tổ chức sản xuất thi công khi đã có sự thỏa thuận thống nhất với chủ đầu tu, và tiêu thụ đuợc khi đã thỏa mãn các yêu cầu mà chủ đầu tu và Doanh nghiệp đã ký kết trong Hợp đồng xây lắp .Sự mở rộng hay thu hẹp qui mô hoạt động của các DNXL phụ thuộc rất lớn vào khả năng đầu tu mở rộng, định huớng phát triển của nền kinh tế, nếu kinh tế phát triển thì nhu cầu thi công xây lắp,đầu tu xây dựng sẽ tăng lên và thị truờng tiêu thụ sản phẩm xây lắp cũng sẽ phát triển theo và nguợc lại. - Dòng tiền của các DNXL có đuợc khi sản phẩm xây lắp đuợc các chủ đầu tu chấp thuận, nghiệm thu thanh toán và nguồn tiền của chủ đầu tu đã sẵn sàng, đây là dòng tiền hết sức quan trọng để DNXL sử dụng trang trải các chi phí hoạt động trong đó một khoản không nhỏ dùng để trả nợ Ngân hàng. Đặc điểm về tài chính của các DNXL: - Với đặc thù của DNXL nêu trên nên nhu cầu vốn cho các DNXL thuờng rất lớn ( kể cả vốn trung dài hạn và vốn ngắn hạn) trong đó nhu cầu vay vốn trung dài hạn để đầu tu mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị nâng cao năng lực thi công. Bên cạnh đó nhu cầu bảo lãnh và vay vốn ngắn 6 hạn để tham gia thi công các công trình xây lắp cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng nhu cầu cấp tín dụng của Doanh nghiệp, đây là một kênh rất lớn để các Ngân hàng có cơ hội tiếp cận cấp tín dụng đối với các DNXL.
- Vòng quay vốn luu động của các DNXL thuờng kéo dài hơn so với các hoạt động sản xuất kinh doanh thông thuờng khác. Qui trình để sản xuất ra một sản phẩm xây lắp thuờng rất dài, từ khâu tu vấn, thiết kế, giải phóng mặt bằng, thi công, giám sát, nghiệm thu thanh toán, quyết toán, bảo hành., Doanh nghiệp phải bỏ ra rất nhiều chi phí cho từng hạng mục, giá trị đuợc tạm ứng, thanh toán thuờng chiếm khoảng 70%, vì vậy vốn bị ứ đọng trong thời gian chờ nghiệm thu, quyết toán thanh toán,dẫn đến vòng quay vốn luu động bị chậm. - Khả năng tự chủ về tài chính thâp, đòn bẩy tài chính cao, gánh nặng về chi phí vốn vay, gây áp lực lớn đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp. Với thực trạng vốn chủ sở hữu của hầu hết các DNXL còn ở mức thấp so với tổng nguồn vốn, các DNXL thuờng xuyên thiếu vốn luu động để sản xuất kinh doanh và phải dựa vào nguồn vốn bên ngoài, trong đó có một phần vốn chiếm dụng từ nhà cung cấp và phần lớn là vốn vay Ngân hàng dẫn đến chi phí vốn tăng lên, ảnh huởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy tỷ lệ bổ sung vốn chủ sở hữu từ Lợi nhuận để lại không theo kịp với tỷ lệ tăng truởng của qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vì vậy đối với các DNXL điều quan trọng là phải tiếp cận và thực hiện thi công các công trình có nguồn vốn thanh toán rõ ràng, sẵn sàng cho việc thanh toán, đủ năng lực thi công cả về nhân lực và vật lực, đồng thời phải cân đối tài chính để tìm nguồn vốn đầu tu cho việc nâng cao năng lực th i công, đảm bảo chất luợng sản phẩm, tiết kiệm chi phí đem lại hiệu quả kinh tế cao. Tín dụng đối với các Doanh nghiệp xây lắp tại Ngân hàng Thương mại 1. Đặc điểm trong hoạt động cấp tín dụng đối với DNXL: a/Khái niệm tín dụng: “Tín dụng là quan hệ giữa các bên về việc vay mượn một tài sản thực, tài sản tài chính hay uy tín” [21,tr.87],vi vậy “quan hệ tín dụng thể hiện sự vay mượn , là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định trên cơ sở tín nhiệm ( tin tưởng) người sử dụng tài sản hiệu quả để có khả năng hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu” [21,tr. b/Đặc điểm trong hoạt động cấp tín dụng đối với DNXL: - Doanh nghiệp xây lắp với tư cách là nhà thầu thi công, thường có nhu cầu phát sinh các sản phẩm tài trợ thương mại trước các sản phẩm cho vay, ví dụ như Bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán.
[2] Do các dòng tiền chi và dòng tiền thu từ việc thanh toán của chủ đầu tư không khớp nhau nên nhà thầu thường phát sinh nhu cầu vay vốn lưu động để chi trả các chi phí phát sinh như nguyên nhiên vật liệu, lương nhân công, chi phí thuê máy móc thiết bị, chi phí sửa chữa nhỏ, chi phí chung, chi phí cho thầu phụ ( nếu có) , chi phí khác. hoặc nhu cầu vay vốn trung dài hạn để mua sắm máy móc thiết bị phục vụ thi công công trình. - Việc phát hành bảo lãnh hay cho vay của Ngân hàng phải dựa trên nhu cầu và cơ sở hồ sơ Doanh nghiệp cung cấp như: Hồ sơ mời thầu, hợp đồng thi công xây lắp, Phương án sản xuất kinh doanh và bảo lãnh/vay vốn, Hồ sơ dự toán, Hồ sơ nghiệm thu thanh toán, hóa đơn chứng từ, đối chiếu công nợ và nhu cầu sử dụng vốn phục vụ cho hoạt động thi công xây lắp của Doanh nghiệp.Sau khi thảm định tính khả thi của Phương án, nguồn vốn 8 thanh toán của Công trình, vốn tự có tham gia, Ngân hàng xác định số tiền bảo lãnh/doanh số cho vay đối công trình đó. [2] Một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp thường thi công rất nhiều công trình với các giai đoạn và tiến độ thi công,nguồn vốn thanh toán khác nhau.
Để quản lý và theo dõi tiến độ thi công, khả năng thanh toán và hiệu quả của từng công trình, Ngân hàng thường áp dụng phương thức cho vay từng lần, mỗi công trình sẽ có phương án SXKD riêng, ký hợp đồng tín dụng và quản lý theo doanh số cho vay, thu nợ của công trình đó. - Thời hạn bảo lãnh, cho vay cũng phải phụ thuộc vào điều khoản qui định của Hợp đồng, tiến độ thi công, điều khoản thanh toán.