phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: 7 Luan van Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện. Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và việc thực hiện pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện – Từ thực tiễn huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động của Thanh tra huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk. 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA CẤP HUYỆN 1.
Thanh tra cấp huyện 1. Khái niệm thanh tra cấp huyện 1. Khái niệm thanh tra Thanh tra (tiếng Anh là Inspect) xuất phát từ nguồn gốc La tinh (Inspectare), có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ một sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tƣợng nhất định. Có rất nhiều khái niệm về thanh tra.
Theo Từ điển pháp luật Anh – Việt năm 1994, thanh tra là “sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra” [ 19, tr. Theo Đại từ điển Tiếng Việt năm 2008 do Nguyễn Nhƣ Ý làm chủ biên thì thanh tra có nghĩa là “điều tra, xem xét để làm rõ sự việc” [18, tr. Với nghĩa này thì thanh tra bao hàm cả nghĩa điều tra. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2016 thì thanh tra có nghĩa là “kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp” [51, tr.
Với nghĩa này thì thanh tra bao hàm cả nghĩa kiểm soát. Trong cuốn sách “Thuật ngữ pháp lý phổ thông” do Nhà xuất bản pháp lý in năm 1986 định nghĩa: “thanh tra được xem là một biện pháp (phương pháp) của kiểm tra. Nhiệm vụ thanh tra được uỷ quyền cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm” [20, tr. Theo nghĩa này, thanh tra hẹp hơn kiểm tra, thanh tra gắn liền với chức năng pháp lý trong quản lý nhà nƣớc.
Nhiệm vụ của thanh tra cũng là kiểm tra, nhƣng chỉ là kiểm tra quyền sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tập thể có đƣợc thực hiện đúng, có đƣợc bảo vệ hay không, thẩm tra tính hợp pháp của các hoạt động kinh tế, xã hội, tài chính… Ở nƣớc ta, thuật ngữ “thanh tra” lần đầu tiên xuất hiện tại Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký thành lập Ban thanh tra 9 Luan van đặc biệt. Sắc lệnh nêu rõ: “Chính phủ sẽ lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” [6, tr. Từ Sắc lệnh này, quyền thanh tra đƣợc xác lập và đƣợc giao cho Chính phủ thực hiện. Sau đó khái niệm “thanh tra” đƣợc đề cập trong các bản Hiến pháp của nƣớc ta và các văn bản pháp luật khác, khẳng định thanh tra là một hoạt động đặc biệt không thể thiếu trong quản lý nhà nƣớc.
Trong bài nói chuyện tại Hội nghị cán bộ thanh tra toàn miền Bắc năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định thanh tra là hoạt động “theo dõi, xem xét việc chấp hành đúng đắn đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và Chính phủ” [11, tr. Hiến pháp Việt Nam năm 1946 chƣa sử dụng thuật ngữ “thanh tra”. Hoạt động thanh tra, kiểm tra chƣa đƣợc giao cho một cơ quan chuyên trách nào mà đƣợc giao cho Ban thƣờng vụ của Nghị viện [22]. Hiến pháp năm 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các quyết định quản lý nhà nƣớc [23].
Hiến pháp năm 1980 thuật ngữ thanh tra đƣợc sử dụng với nội dung là một chức năng của cơ quan quản lý nhà nƣớc [24]. Khoản 7 Điều 112 Hiến pháp năm 1992 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân” [25, tr. Khoản 5 Điều 96 Hiến pháp 2013 quy định Chính phủ “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu tham nhũng trong bộ máy nhà nước” [26, tr. Theo kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học cấp nhà nƣớc độc lập “Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nƣớc” do tiến sỹ Trần Đức Lƣợng làm chủ nhiệm thì khái niệm thanh tra đƣợc xác định: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là 10 Luan van hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân” [40].
Tóm lại, thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nƣớc, việc thực hiện chức năng nhiệm vụ đƣợc giao của các cơ quan nhà nƣớc, các tổ chức và cá nhân do các cơ quan thanh tra có thẩm quyền thực hiện nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nƣớc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nƣớc, của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Văn bản pháp lý đầu tiên xác lập một cách đầy đủ và toàn diện về tổ chức và hoạt động thanh tra là Pháp lệnh thanh tra năm 1990. Pháp lệnh đã cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp và khẳng định thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nƣớc. Điều 1 Pháp lệnh Thanh tra quy định: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước; là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ luật trong quản lý nhà nước, thực hiện quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa” [13, tr.
Khái niệm thanh tra lần đầu tiên đƣợc định nghĩa trong Luật Thanh tra năm 2004 dƣới khái niệm thanh tra nhà nƣớc. Theo đó “Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành” [27, tr. 11 Luan van Luật Thanh tra năm 2010 thay thế Luật Thanh tra 2004 tiếp tục khẳng định vai trò to lớn của công tác thanh tra và có những quy định mới nhằm nâng cao vị trí và vai trò của các tổ chức thanh tra và tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, cũng đƣa ra định nghĩa tƣơng tự về thanh tra đƣợc quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra 2010: “Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành”[28, tr. Nhƣ vậy, theo Luật Thanh tra năm 2010 thì nội hàm của khái niệm Thanh tra nhà nƣớc gồm mục đích của hoạt động thanh tra, chủ thể tiến hành thanh tra, nội dung thanh tra và đối tƣợng thanh tra. Khái niệm thanh tra cấp huyện Thanh tra cấp huyện là tổ chức cơ sở trong hệ thống các cơ quan Thanh tra Nhà nƣớc. Thanh tra cấp huyện gồm có Thanh tra huyện, thanh tra quận, thanh tra thị xã, thanh tra thành phố thuộc tỉnh, gọi chung là thanh tra huyện.
Theo Luật Thanh tra năm 2010 thì Thanh tra cấp huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nƣớc về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Thanh tra cấp huyện có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra và Thanh tra viên. Chánh Thanh tra cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Chánh Thanh tra cấp tỉnh. Phó Chánh Thanh tra cấp huyện giúp Chánh Thanh tra cấp huyện thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh Thanh tra cấp huyện [28].
Thanh tra cấp huyện có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, 12 Luan van quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện; đồng thời chịu sự hƣớng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Thanh tra cấp tỉnh. Nhƣ vậy, cơ quan thanh tra nhà nƣớc cấp huyện hiện nay đƣợc xác định là đơn vị của cơ quan quản lý nhà nƣớc cấp huyện. Đặc điểm, vai trò, mục đích và nguyên tắc hoạt động thanh tra cấp huyện 1. Đặc điểm của hoạt động thanh tra cấp huyện Thanh tra cấp huyện là tổ chức cơ sở trong hệ thống các cơ quan Thanh tra Nhà nƣớc.
Giống nhƣ đặc điểm chung của thanh tra, hoạt động thanh tra cấp huyện có những đặc điểm sau: Thứ nhất, hoạt động thanh tra cấp huyện luôn gắn với hoạt động quản lý nhà nƣớc ở cấp huyện. Quản lý nhà nƣớc và thanh tra đều có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nƣớc để thực hiện sự tác động lên các đối tƣợng quản lý. Với tƣ cách là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nƣớc, hoạt động thanh tra cấp huyện gắn liền với hoạt động quản lý nhà nƣớc ở cấp huyện. Quản lý nhà nƣớc và thanh tra có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Thanh tra chỉ xuất hiện khi có nhà nƣớc và ở đâu có quản lý nhà nƣớc thì ở đó có thanh tra.