CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế, có lịch sử hình thành và phát triển gắn với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng, đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại thông qua chức năng, các dịch vụ và vai trò mà ngân hàng thực hiện trong nền kinh tế. Một trong những cách tiếp cận thận trọng nhất có thể xem xét là trên phương diện những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp, theo đó “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất cứ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [16,tr92] - Trích Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính. Lịch sử phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam còn khá non trẻ so với lịch sử hình thành và phát triển của các ngân hàng trên thế giới. Tổ chức tín dụng đầu tiên tại Việt Nam được ra đời năm 1951 (là tiền thân của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay) với chức năng chính là huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, cơ quan đoàn thể, tổ chức kinh tế và dân cư để cho vay.
Ngân hàng Nhà nước vừa là cơ quan quản lý về tiền tệ vừa là tổ chức kinh doanh phi lợi nhuận nhằm thực hiện các mục tiêu trong thời kỳ chiến tranh. Do hoàn cảnh lịch sử, phải đến năm 1990 khi Pháp lệnh ngân hàng được ban hành thì các tổ chức tín dụng tại Việt Nam mới bước vào giai đoạn phát triển. Đến nay, tại Việt Nam có rất nhiều tổ chức tín dụng đang 5 hoạt động gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (số 47/2010/QH12, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011) định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” 1.
Hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Với chức năng là một trung gian tài chính, trung gian thanh toán trong nền kinh tế, ngân hàng thương mại có các hoạt động có bản sau: - Hoạt động huy động vốn: nguồn vốn huy động của ngân hàng là từ tiền gửi của các tổ chức và dân cư trong nền kinh tế, do đó, hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại chính là việc ngân hàng nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Nguồn vốn chủ sở hữu ngân hàng thường chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định trong quy mô nguồn vốn của ngân hàng, để đảm bảo lượng vốn cần thiết cho hoạt động, ngân hàng phải thường xuyên thực hiện huy động vốn trong nền kinh tế. - Hoạt động sử dụng vốn: được hiểu bao gồm hoạt động cấp tín dụng và đầu tư của ngân hàng. Cấp tín dụng là việc ngân hàng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, leasing, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Đầu tư là việc ngân hàng bỏ vốn vào các hoạt động sinh lời như mua trái phiếu kho bạc, duy trì tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác, góp vốn thành lập công ty con,. để đem lại cho ngân hàng một lợi ích kỳ vọng nhất định trong tương lai. Hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng thương mại phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt về quản lý, kiểm soát rủi ro của Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt đối với hoạt động cấp tín dụng. - Hoạt động trung gian thanh toán: được thể hiện thông qua việc cung ứng phương tiện thanh toán và các dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Cùng với sự phát 6 triển của nền kinh tế và sự gia tăng các nhu cầu của con người, các dịch vụ thanh toán ngân hàng cung cấp ngày càng đa dạng, như thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Bên cạnh các dịch vụ cho vay, thanh toán cơ bản, ngân hàng thương mại ngày nay còn cung cấp rất nhiều dịch vụ hiện đại như dịch vụ bảo quản tài sản hộ, dịch vụ ủy thác và tư vấn, dịch bảo hiểm, dịch vụ đại lý, dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và đòi hỏi của quá trình phát triển. Các hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” - Trích Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (số 47/2010/QH12, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011).
Cùng với sự phát triển của các dịch vụ ngân hàng hiện đại, các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại cũng ngày càng đa dạng và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của khách hàng. - Theo thời hạn của khoản vay, các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại được chia thành: + Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. + Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng. + Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng.
- Theo phương thức bảo đảm cho khoản vay, các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại được chia thành: Cho vay có bảo đảm bằng tài sản và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản. - Theo mục đích cho vay, các loại hình cho vay của Ngân hàng thương mại được chia thành: 7 + Cho vay thương mại: thường là các khoản vay ngắn hạn, phục vụ nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. + Cho vay tiêu dùng: đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình. + Cho vay theo dự án: cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống.
Cùng với nhu cầu đầu tư phát triển gia tăng, cho vay theo dự án đang dần trở thành một trong những hình thức cho vay phổ biến của các ngân hàng thương mại. Cho vay theo dự án mang những đặc trưng cơ bản sau: + Thời gian cho vay vốn dài: các DAĐT có thời gian sử dụng vốn vay dài do cần có thời gian cho việc hình thành các tài sản cố định và thời gian để tài sản cố định đó tạo ra đủ nguồn thu bù đắp chi phí đầu tư ban đầu. Vì vậy, cho vay theo dự án thuộc loại hình cho vay trung dài hạn của ngân hàng. + Số tiền cho vay lớn: các DAĐT mua sắm tài sản cố định, đổi mới thiết bị, xây dựng cơ sở hạ tầng.
của khách hàng thường có nhu cầu vốn lớn. Có những DAĐT nhu cầu vốn vượt quá khả năng đáp ứng của một ngân hàng, đòi hỏi nhiều ngân hàng cùng tham gia tài trợ. + Mức sinh lời cao, rủi ro lớn: nguyên nhân cơ bản do thời gian thực hiện dự án kéo dài, khiến cho dự án chịu tác động từ nhiều yếu tố thị trường, pháp luật và tự nhiên, trong trường hợp biến động bất lợi thì ngân hàng khó có thể bảo toàn được vốn. Để đáp ứng nhu cầu vốn cho các cam kết dài hạn, ngân hàng cũng phải chấp nhận nhiều rủi ro hơn khi cân đối nguồn vốn huy động.
Vì vậy, ngân hàng thường áp dụng mức lãi suất cho vay đối với dự án trung dài hạn cao hơn so với các dự án vay vốn ngắn hạn. Điều này đồng nghĩa với việc, cho vay theo dự án là hoạt động mang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng. Hiện nay, cùng với nhu cầu đầu tư phát triển của nền kinh tế, ngày càng nhiều các DAĐT có quy mô lớn có nhu cầu vay vốn ngân hàng, đây là cơ hội cho những ngân hàng có đủ tiềm lực tiếp tục mở rộng phát triển thị trường tín dụng. CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH Dự ÁN ĐẦU TƯ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Vai trò của thẩm định tài chính dự án đầu tư Đặc trưng cơ bản của hoạt động cho vay theo dự án là tiềm ẩn nhiều rủi ro, mức độ rủi ro này phụ thuộc vào các yếu tố như: thời gian thực hiện dự án, quy mô dự án, mục đích dự án, năng lực chủ đầu tư, các nguồn vốn tài trợ dự án. Trong khi đó, hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại phải chịu sự quản lý giám sát chặt chẽ của hệ thống quy định pháp luật, phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản là “hoàn trả cả gốc và lãi” đúng hạn, đồng thời đạt mục tiêu sinh lợi cho ngân hàng. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với Ngân hàng thương mại là làm thế nào để lựa chọn được phương án khả thi nhất trong các nhu cầu vay vốn của khách hàng, hạn chế tối đa các rủi ro đối với ngân hàng. Để đáp ứng yêu cầu này, trước khi đưa ra quyết định tài trợ vốn cho dự án, các Ngân hàng thương mại phải tổ chức thẩm định dự án đầu tư để có thể đánh giá tính khả thi và hiệu quả của dự án.