CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI VÀ CHẤT LƯỢNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm tài trợ thương mại Theo luật thương mại Việt nam năm 2005, Hoạt động thương mại quốc tế là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác, diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Ngày nay, hoạt động thương mại quốc tế trở nên ngày càng phát triển nhờ sự gia tăng năng suất lao động, sự phát triển của công nghệ thông tin, sự tự do hóa về kinh tế trên toàn thế giới cũng như sự gia tăng về số lượng bạn hàng trong và ngoài nước.
Tuy nhiên thương mại quốc tế là một hoạt động phức tạp, do các chủ thể tham gia thuộc các quốc gia khác nhau, có sự khác biệt về mặt ngôn ngữ, phong tục, tập quán, luật pháp. Mặt khác, hoạt động xuất nhập khẩu thường được thực hiện với giá trị lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt khi đối tác không thực hiện nghĩa vụ, cam kết của mình được quy định trong hợp đồng ngoại thương. Từ những lý do trên, trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp luôn cần có sự tham gia của các ngân hàng thương mại, nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh và giảm thiểu rủi ro Chính vì vậy, hoạt động tài trợ tài trợ thương mại quốc tế ra đời như một đòi hỏi tất yếu của nền kinh tế toàn cầu, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế. Thuật ngữ “tài trợ” được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả “uy tín, niềm tin” chứ không đơn thuần chỉ là khoản tiền cho vay như cách hiểu thông thường.
Như vậy, Tài trợ thương mại của Ngân hàng thương mại là việc “Ngân hàng thương mại dùng uy tín (credit) và tài chính (capital) của mình để hỗ trợ, 9 tài trợ cho các hoạt động thương mại từ khâu sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm trên thị trường thế giới” (Nguyễn Thị Hường, 2008) 1. Vai trò của tài trợ thương mại Trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế và thương mại quốc tế ngày càng phát triển thì TTTM đã trở thành một hoạt động không thể thiếu của các Ngân hàng thương mại. Tài trợ thương mại đóng vai trò ngày càng quan trọng với nền kinh tế, với doanh nghiệp và với bản thân ngân hàng thương mại. • Đối với nền kinh tế Thông qua các hình thức tài trợ TMQT của các NHTM, việc mua bán hàng hoá xuất nhập khẩu được thực hiện dễ dàng, thuận tiện, góp phần nâng cao tính năng động của nền kinh tế và giúp ổn định thị trường.
Hoạt động TTTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển, đẩy mạnh quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá giữa các nước trên thế giới Bên cạnh đó, hoạt động tài trợ TMQT của NHTM còn giúp các doanh nghiệp đứng vững trong cơ chế thị trường và có thể tồn tại trong thời kỳ hội nhập. Nhờ có hoạt động tài trợ, các doanh nghiệp có vốn để thay đổi dây chuyền công nghệ, hiện đại hoá máy móc nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra các sản phẩm phong phú, đa dạng hơn. Doanh nghiệp phát triển là cơ sở, tiền đề cho kinh tế đất nước phát triển. • Đối với ngân hàng Đối với Ngân hàng thương mại, tài trợ thương mại là một trong những nghiệp vụ ngân hàng quốc tế quan trọng, mang lại cho ngân hàng nhiều lợi ích Thứ nhất, nghiệp vụ tài trợ thương mại là mảng dịch vụ đem lại nguồn thu đáng kể cho Ngân hàng.
Đối với NHTM hiện đại, thu nhập từ phí dịch vụ, trong đó có tài trợ thương mại ngày càng tăng cả về số lượng lẫn tỉ trọng. Các khoản thu từ phí và lãi liên quan đến tài trợ thương mại bao gồm: phí phát hành L/C, phí thông báo L/C, phí xác nhận L/C, phí nhờ thu, lãi chiết khấu chứng từ, lãi cho vay thanh toán,. Bên cạnh đó, TTTM còn thúc đẩy 10 sự phát triển các hoạt động khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng. Thứ hai, tài trợ thương mại giúp đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích vì việc tài trợ gắn liền với hoạt động ngoại thương.
Ví dụ như trong nghiệp vụ thanh toán L/C nhập khẩu, vốn tài trợ được thanh toán thẳng cho bên thứ ba (người thụ hưởng trong L/C), mà không qua bên xin tài trợ (người đề nghị hay chính là doanh nghiệp). Điều này tránh đuợc tình trạng người xin tài trợ sử dụng vốn sai mục đích, hạn chế được rủi ro tín dụng. Thứ ba, tài trợ thương mại giúp ngân hàng quản lý các nguồn thanh toán của doanh nghiệp. Khi thực hiện tài trợ, ngân hàng yêu cầu mọi giao dịch thanh toán giữa người xuất khẩu và người nhập khẩu đều phải thực hiện thông qua tài khoản tại ngân hàng.
Do vậy, nguồn thu để trả nợ được ngân hàng quản lý chặt chẽ Thứ tư, thông qua hoạt động tài trợ thương mại, ngân hàng mở rộng được quan hệ với các doanh nghiệp trong nước, mở rộng mối quan hệ đại lí với các ngân hàng nước ngoài, từ đó tăng cơ hội kinh doanh sinh lợi cho Ngân hàng, nâng cao vị thế cạnh tranh và khả năng phát triển của mình. • Đối với Doanh nghiệp Tài trợ thương mại giúp doanh nghiệp thực hiện thành công giao dịch xuất nhập khẩu của mình với giá trị lớn Vai trò trung gian thanh toán trong hoạt động TTTM của Ngân hàng thương mại giúp cho quá trình thanh toán theo yêu cầu của khách hàng được tiến hành nhanh chóng, chính xác, an toàn tiện lợi và tiết kiệm tối đa chi phí. Trong quá trình thực hiện thanh toán, nếu khách hàng không đủ khả năng tài chính cần đến sự tài trợ của ngân hàng thì ngân hàng sẽ chiết khấu chứng từ xuất khẩu. Qua việc thực hiện thanh toán, ngân hàng còn có thể giám sát được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp để có những tư vấn cho khách hàng và điều chỉnh chiến lược khách hàng 11 Với nhà xuất khẩu: nguồn tài trợ của ngân hàng sẽ giúp nhà xuất khẩu có nguồn vốn để thu mua hàng hóa, sản xuất hàng hóa theo đơn đặt hàng.
Ngoài ra, ngân hàng có thể cung cấp bảo lãnh trong truờng hợp nhà xuất khẩu gặp phải vấn đề uy tín trong kinh doanh khi đặt quan hệ với đối tác nuớc ngoài Với nhà nhập khẩu, ngân hàng tài trợ “chữ tín” cho nhà nhập khẩu trong việc phát hành LC đồng thời cung cấp dịch vụ để thanh toán tiền hàng nhập khẩu nhu tài trợ cho vay thế chấp bằng lô hàng nhập 1. Phân loại các nghiệp vụ tài trợ thương mại Trong phạm vi bài nghiên cứu, các nghiệp vụ tài trợ thuơng mại đuợc chia thành bốn mảng: tài trợ theo phuơng thức nhờ thu, tài trợ theo phuơng thức tín dụng chứng từ, tài trợ thông qua hình thức Factoring và tài trợ thông qua sử dụng Forfaiting. Trong mỗi một nghiệp vụ, hình thức tài trợ cho nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đều có sự phân định rõ ràng, có uu và nhuợc điểm riêng, phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể 1.1 Tài trợ bằng phương thức nhờ thu Về nguyên tắc, ngân hàng cung cấp phuơng thức nhờ thu cho khách hàng để thu phí dịch vụ, ngân hàng không có cam kết thanh toán nào và không chịu trách nhiệm về việc thanh toán giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế, ngân hàng vẫn thực hiện tài trợ cho nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu thông qua từng nghiệp vụ cụ thể • Tài trợ cho nhà xuất khẩu +) Chiết khấu hoặc ứng truớc bộ chứng từ Đối với nhà xuất khẩu, ngân hàng thuờng áp dụng hình thức chiết khấu có truy đòi.
Chiết khấu là việc ngân hàng mua lại bộ chứng từ với giá trị thấp hơn mệnh giá. Nhu vậy, trong phuơng thức nhờ thu, ngân hàng có quyền truy đòi lại số tiền đã chiết khấu và lãi chiết khấu nếu bộ chứng từ không đuợc thanh toán. Truớc khi đua ra quyết định tài trợ, ngân hàng thuờng xem xét 12 đến các yếu tố như: điều kiện thanh toán D/P hay D/A, hệ số tín nhiệm của người mua, rủi ro quốc gia, quyền truy đòi với nhà xuất khẩu. Một hình thức khác mà ngân hàng tài trợ cho nhà xuất khẩu trong phương thức nhờ thu là ứng trước tiền cho bộ chứng từ nhờ thu.
Thực chất, đây là việc ngân hàng cho vay tiền trên cơ sở đảm bảo bằng bộ chứng từ nhờ thu. Vì vậy, về bản chất thì ứng trước và chiết khấu có truy đòi là giống nhau +) Chiết khấu hối phiếu đòi nợ Trong trường hợp bộ chứng từ nhờ thu là có kì hạn, và khách hàng xuất trình hối phiếu kì hạn kèm bộ chứng từ, ngân hàng có thể tài trợ cho nhà xuất khẩu thông qua việc chiết khấu hối phiếu. Ngân hàng thường áp dụng hình thức chiết khấu có truy đòi do doanh nghiệp là người kí chấp nhận trả tiền hối phiếu • Tài trợ cho nhà nhập khẩu +) Cho vay thanh toán lô hàng nhập Đối với nhà nhà nhập khẩu, ngân hàng thực hiện việc tài trợ thông qua cho vay thanh toán ngay lô hàng nhập khẩu. Với điều kiện thanh toán D/P, nhà nhập khẩu phải thanh toán ngay để nhận bộ chứng từ.
Vì vậy, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn cần thiết để thanh toán cho đến khi có thu nhập từ sản xuất, kinh doanh mặt hàng đã nhập về. Khi đó, nhà nhập khẩu dùng lô hàng làm tài sản đảm bảo đề nghị ngân hàng phục vụ mình cho vay để thanh toán bộ chứng từ. Khi áp dụng tài trợ bằng phương pháp này, ngân hàng kiểm soát lô hàng bằng việc thuê bảo vệ theo dõi kho hàng, mọi giao dịch xuất hàng buôn bán, sản xuất phải có sự theo dõi giám sát của ngân hàng và là cơ sở để ngân hàng thực hiện thu tiền để thu hồi gốc, lãi. Tuy nhiên, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro trong trường hợp hàng hóa bán chậm hoặc không bán được, dẫn đến việc thu hồi công nợ chậm.
+) Kí hậu vận đơn hoặc phát hành thư ủy quyền nhận hàng Trong trường hợp một vận đơn gốc được gửi cùng hàng hóa và hàng hóa cập cảng trước khi bộ chứng từ xuất trình tại ngân hàng, ngân hàng thu hộ có 13 thể thực hiện tài trợ cho nhà nhập khẩu thông qua hình thức kí hậu vận đơn.