CHƯƠNG 1: LÍ LUẬN CHUNG VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUẢN LÍ NHÀ NƯỚC VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT 1. Khái quát về quy hoạch sử dụng đất 1. Khái niệm Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm vá khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.
Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho thời kỳ xác định. Theo Tôn Gia Huyên (2007): “Quy hoạch sử dụng đất là bản “tổng phổ” của phát triển và tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó phản ánh cụ thể các ý tưởng về tương lai của các ngành, các cấp một cách cân đối và nhịp nhàng; thông qua những trình tự hành chính pháp lý nhất định để trở thành quy chế 6 xã hội, mọi người đều có quyền và nghĩa vụ thực hiện. Quá trình tổ chức, thành lập, thực hiện, điều chỉnh quy hoạch là quá trình huy động mọi nguồn lực xã hội vào phát triển sản xuất và sự nghiệp công cộng theo phương thức dân chủ, nên đó cũng là quá trình xây dựng và củng cố chính quyền dân chủ nhân dân. Do đó, quy hoạch sử dụng đất vừa là phương thức để phát triển vừa là công cụ để xây dựng và củng cố nhà nước”.
Theo Chu Văn Thỉnh (2007): “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của nhà nước (thể hiện đồng thời 3 tính chất kinh tế, kỹ thuật và pháp chế) về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất, thông qua việc phân bổ quỹ đất đai và tổ chức sử dụng đất đai như tư liệu sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường”. Theo Luật Đất đai năm 2013 (Điều 3) thì: “Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định” (Quốc Hội, 2013). Thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường. Như vậy, có thể hiểu quy hoạch sử dụng đất là việc lập kế hoạch sử dụng đất ở từng địa phương, phân theo từng mục đích sử dụng được chia thành từng kỳ trong một khoảng thời gian nhất định.
7 Việc quy hoạch này được đưa ra để hoạch định chính sách, phát triển kinh tế địa phương, đảm bảo việc sử dụng quỹ đất một cách có hiệu quả và đây cũng là cơ sở để Nhà nước giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, hay là cơ sở để Nhà nước thực hiện việc đền bù về đất, chi phí về đất cho người dân khi có quy hoạch cần thu hồi đất. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất thuộc loại quy hoạch có tính pháp lí, tính kinh tế- xã hội, tính khoa học và tính kĩ thuật. Đặc điểm của quy hoạch được thể hiện như sau: Tính pháp lí: Quy hoạch sử dụng đất mang tính pháp lý bởi lập theo các căn cứ pháp lý của nhà nước. Khi được phê duyệt có giá trị như một văn bản pháp luật, bắt buộc các chủ thể sử dụng phải tuân thủ.
Quy hoạch sử dụng đất xác nhận về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật. Tính kinh tế- xã hội: Quy hoạch sử dụng đất đem lại lợi ích kinh tế hiệu quả kinh tế cao. Về xã hội điều hòa nhu cầu sử dụng giữa các chủ thể, đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận. Tính khoa học: Quy hoạch sử dụng đất được lập trên các căn cứ khoa học, số liệu chuẩn xác, nguyên tắc, và lý luận chặt chẽ.
Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đổ, khoanh định, xử lí số liệu… 1. Nhiệm vụ và nội dung của quy hoạch sử dụng đất * Nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất Nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình, từ đó xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, làm cơ sở để giao đất và đầu tư 8 để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực và phục vụ các nhu cầu dân sinh, nhu cầu văn hóa xã hội. Tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh trình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông lâm nghiệp. Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương.
* Nội dung của quy hoạch sử dụng đất Nội dung của quy hoạch sử dụng đất là xây dựng quy hoạch sử dụng đất nghiên cứu, phân tích và tổng hợp hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng đất đai, đặc biệt là đất chưa sử dụng. Đề xuất phương hướng, mục tiêu, trọng điểm và các nhiệm vụ cơ bản về sử dụng đất trong thời hạn lập quy hoạch; Xử lý, điều hòa nhu cầu sử dụng đất giữa các ngành, đưa ra các chỉ tiêu khống chế (chỉ tiêu khung) để quản lý vĩ mô đối với từng loại sử dụng đất; Phân phối hợp lý nguồn tài nguyên đất đai, điều chỉnh cơ cấu và phân bổ sử dụng đất đai; Tổ chức một cách hợp lý việc khai thác, cải tạo, bảo vệ đất đai. Quản lí nhà nước về quy hoạch sử dụng đất. Khái niệm Quản lí nhà nước về quy hoạch sử dụng đất là tổng hợp các hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của nhà nước về đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; Phân phối lại quỹ đất theo quy hoạch kế hoạch sử dụng đất; kiểm tra giám sát quá trình quản lí và sử dụng đất;điều tiết các nguồn lợi từ đất.
9 Như vậy chủ thể của quản lí nhà nước về quy hoạch sử dụng đất là cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ TW đến địa phương (quản lí toàn bộ lập quy hoạch sử dụng đất, quản lí thực hiện, quản lí giao đất, cho thuê đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quản lí thanh tra kiểm tra xử lí vi phạm trong thực hiện quy hoạch sử dụng đất). Đối tượng quản lí quy hoạch sử dụng đất được chia làm 2 nhóm: - Các chủ thể quản lí đất đai và sử dụng đất đai; - Đất đai. Các chủ thể quản lý đất có thể là cơ quan nhà nước, có thể là tổ chức. Các chủ thể quản lý đất đai là cơ quan nhà nước gồm 2 loại là: Các cơ quan thay mặt Nhà nước thực hiện quyền quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương theo cấp hành chính, đó là Uỷ ban nhân dân các cấp và cơ quan chuyên môn ngành quản lý đất đai ở các cấp.
Các cơ quan đứng ra đăng ký quyền quản lý đối với những diện tích đất chưa sử dụng, đất công ở địa phương. Theo quy định của Luật Đất đai 2003,Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm đăng ký vào hồ sơ địa chính những diện tích đất chưa sử dụng và những diện tích đất công cộng không thuộc một chủ sử đụng cụ thể nào như đất giao thông, đất nghĩa địa. Các cơ quan này đều là đối tượng quản lý trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan cấp trên trực tiếp và chủ yếu theo nguyên tắc trực tuyến. Các chủ thể quản lý đất đai là các tổ chức như các Ban quản lý khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế.
Những chủ thể này không trực tiếp sử dụng đất mà được Nhà nước cho phép thay mặt Nhà nước thực hiện quyền quản lý đất đai. Vì vậy, các tổ chức này được Nhà nước giao quyền thay mặt Nhà nước cho thuê đất gắn liền với cơ sở hạ tầng trong khu công 10 nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tếđó. Các ban quản lý này là các tổ chức và cũng trở thành đối tượng quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Quản lí nhà nước là một dạng quản lí đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triền của xã hội.