Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý dự án và chất lƣợng quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình. Chương 2: Thực trạng chất lƣợng quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình tại 4 Công ty cổ phần Cơ điện công trình. Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình tại Công ty cổ phần Cơ điện công trình 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ CHẤT LƢỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình 1.
Khái niệm về dự án, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình và phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình 1. Khái niệm về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Theo Luật Xây dựng năm 2014 : ―Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng công trình, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng‖[19,4]. Hiện nay có nhiều cách diễn đạt khác nhau của các tác giả về khái niệm QLDA: Theo GS.
Từ Quang Phƣơng – trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân: ―QLDA là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, ngu n lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án được hoàn thành đ ng thời gian, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đ định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, dịch vụ bằng phư ng pháp và điều kiện tốt nhất cho phép”[17,15]. Xét tổng quát có thể hiểu: QLDA là sự vận dụng lý luận, phƣơng pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dƣới sự ràng buộc về nguồn lực. Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tƣ phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án. Qua các cách diễn đạt khái niệm QLDA nêu trên ta có nhận xét nhƣ sau: - QLDA cũng giống nhƣ quản lý các lĩnh vực khác đó là quản lý phải khoa học, trong quá trình quản lý phải vận dụng uyển chuyển phù hợp thực tế và đó cũng là một nghệ thuật phƣơng pháp quản lý.
6 - QLDA là quản lý quá trình bao gồm nhiều công việc có mối liên hệ với nhau. Để đạt đƣợc mục tiêu đề ra của dự án đòi hỏi phải tổ chức thực hiện nhiều, thậm chí rất nhiều công việc khác nhau có mối liên hệ với nhau. Quản lý dự án ĐTXDCT là công tác hoạch định, theo dõi và kiểm soát tất cả những khía cạnh của một dự án nhƣ trên và kích thích mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt đƣợc những mục tiêu của dự án về chi phí, chất lƣợng và thời gian. Nói cách khác, QLDA ĐTXDCT là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đã đề ra.
Nhƣ vậy, QLDA ĐTXDCT là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện gồm: Điều phối thời gian và các loại nguồn lực giám sát quá trình phát triển của dự án, đảm bảo cho dự án đƣợc hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi nguồn vốn đã đƣợc duyệt, đạt chất lƣợng, kỹ thuật đã đề ra, bằng những phƣơng pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. QLDA đƣợc thực hiện trong tất cả các giai đoạn khác nhau của vòng đời dự án. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình Dự án đầu tƣ xây dựng đƣợc phân thành nhiều loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng và nguồn vốn sử dụng. Việc phân loại dự án đầu tƣ xây dựng đƣợc thực hiện dựa trên nhiều dấu hiệu khác nhau, tuy nhiên do đặc thù và phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến 2 cách phân loại, đó là theo quy mô, tính chất của dự án và theo nguồn vốn cung cấp cho dự án.
Theo quy mô và tính chất: + Dự án quan trọng quốc gia là những dự án do Quốc hội thông qua chủ trƣơng đầu tƣ. + Các dự án còn lại tuỳ theo tính chất và quy mô đầu tƣ, dự án đầu tƣ xây dựng công trình đƣợc phân thành 3 nhóm A, B, C để phân cấp quản lý. Theo nguồn vốn đầu tƣ: + Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc; + Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nƣớc bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tƣ phát triển của Nhà nƣớc; + Dự án sử dụng vốn đầu tƣ phát triển của doanh nghiệp nhà nƣớc; + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tƣ nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. 7 Sự phân loại, phân nhóm dự án nhƣ trên có mục đích phục vụ cho việc phân cấp quản lý cho các tổ chức, địa phƣơng trong hệ thống các cơ quan quản lý nhà nƣớc; Theo sự phân cấp đó, UBND các cấp đƣợc quyết định đầu tƣ các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách của cấp mình và các dự án do cấp trên hỗ trợ vốn theo phân cấp của địa phƣơng, căn cứ vào năng lực thực tế quản lý của địa phƣơng.
Mục tiêu quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của Chủ đầu tư dự án Mục tiêu QLDA ĐTXDCT của Chủ đầu tƣ dự án là dẫn dắt dự án đầu tƣ xây dựng đến thành công, nghĩa là hoàn thành công trình xây dựng đảm bảo các thông số kỹ, mỹ thuật theo thiết kế trong sự ràng buộc về chi phí và thời gian thực hiện đƣợc xác định trong dự án khả thi đƣợc duyệt. Cụ thể là: - Đảm bảo dự án hoàn thành đúng tiến độ. - Đảm bảo không vƣợt ngân sách dự kiến. - Đảm bảo dự án đạt chất lƣợng mong muốn.
- Giảm thiểu rủi ro trong quá trình thực hiện dự án. Tiến độ (thời gian), ngân sách (chi phí), chất lƣợng (kết quả) và rủi ro là những đối tƣợng cơ bản của QLDA ĐTXDCT của Chủ đầu tƣ dự án. ính chất của công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình - Tính linh hoạt: Dự án đầu tƣ xây dựng có thời gian xây dựng dài, có nhiều yếu tố ảnh hƣởng khó xác định, do đó quản lý phải linh hoạt để thích ứng với những thay đổi của môi trƣờng dự án. Mặt khác dự án đầu tƣ xây dựng mang tính đơn chiếc do đó không thể sử dụng nguyên mô hình QLDA này cho dự án khác đƣợc.
Hơn nữa mỗi dự án có một quy mô và vị trí khác nhau nên trong QLDA cần có sự linh hoạt khi đƣa ra quyết định cho từng trƣờng hợp cụ thể. - Tính thay đổi: Dự án xây dựng không tồn tại ở dạng ổn định cứng, hàng loạt phân tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực thi do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn nhƣ các tác nhân bên trong là nguồn lực tài chính, các hoạt động sản xuất … và bên ngoài nhƣ môi trƣờng chính trị, kinh tế, công nghệ, kỹ thuật … và thậm chí cả điều kiện kinh tế xã hội. - Tính kịp thời: Tính kịp thời thể hiện trong việc ra quyết định liên quan đến dự án, kịp thời nắm bắt các thông tin thị trƣờng xây dựng, các chính sách, quyết định của Nhà nƣớc, kịp thời nhận ra sự thay đổi để điều hành xử lý công việc, hiệu quả đầu tƣ. 8 - Tính pháp luật: QLDA phải tuân thủ các quy định của Nhà nƣớc và quy định của địa phƣơng nơi đặt dự án.
Nhà quản lý phải đề ra những quy định, nội quy nội bộ điều hành dự án phù hợp với các quy định pháp lý nói trên. - Độ tin cậy: Trong QLDA, các phƣơng án lựa chọn là tối ƣu, các quyết định có độ tin cậy, giảm thiểu việc điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện dự án. - Tính hiệu quả: Dự án sử dụng nguồn lực có giới hạn để đạt đƣợc mục tiêu đề ra, do đó QLDA phải thỏa mãn hiệu quả dựa trên nguồn lực giới hạn đó, nhằm thực hiện dự án đảm bảo về tiến độ, chi phí và chất lƣợng. Nội dung của quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 1.1 Quản lý dự án theo quá trình đầu tư của dự án Công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng công trình của Chủ đầu tƣ theo quá trình đầu tƣ dự án từ giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị đầu tƣ đến giai đoạn kết thúc đầu tƣ và khai thác, vận hành dự án bao gồm những nội dụng quản lý chủ yếu đƣợc thể hiện ở Hình 1.1: Sơ đồ quản lý dự án theo quá trình đầu tƣ dự án Giai đoạn chuẩn bị dự án Nghiên cứu thị Lựa chọn địa Thi tuyển thiết Khảo sát Lập dự án trƣờng, xác điểm xây dựng kế kiến trúc xây dựng đầu tƣ định mục tiêu công trình Giai đoạn thực hiện dự án Thực hiện Thực hiện Lựa chọn Khảo sát Thi công, Giám sát thi các thủ tục giải phóng nhà thầu và thiết kế cung ứng công và lắp về đất đai mặt bằ ng xây dựng lắp đặt đặt cho dự án Giai đoạn kết thúc xây dựng Kết thúc Hoàn công, Bảo trì Quản lý ánh giágiá ĐĐánh sau xây dựng hoàn trả mặt công trình khai thác, sau đầ đầu u tƣ tƣ bằng vận hành (Ngu n: Nghị định 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình) a.
iai đoạn chu n dự án (luật xây dựng năm 2003 gọi là giai đoạn chuẩn bị 10 đầu tư xây dựng): Giai đoạn lập dự án chính là giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản hay còn gọi là giai đoạn chuẩn bị đầu tƣ, gồm hai công việc chính, đó là: Thứ nhất: Xây dựng ý tƣởng dự án là việc xác định bức tranh toàn cảnh về mục tiêu, kết quả cuối cùng và phƣơng pháp thực hiện kết quả đó.