Tổng quan luận án

Chính sách công giữ vai trò định hướng quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Trong quản lý hành chính nhà nước, việc huy động sự tham gia đóng góp trí tuệ của cộng đồng vào chu trình chính sách là phương thức hạn chế ý chí chủ quan, lợi ích nhóm trong hoạch định chính sách, tạo sự đồng thuận xã hội, phát hiện điểm mù chính sách và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng và thực thi chính sách công tại Việt Nam thời gian qua bộc lộ một số hạn chế: xác định mục tiêu và biện pháp chưa sâu sát thực tiễn; việc thu hút nguồn lực, trí tuệ nhân dân chưa được coi trọng; hoạt động tham vấn, phản biện xã hội (PBXH) đối với chính sách chưa đặt đúng tầm mức, còn bó hẹp trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị và thiếu cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin rõ ràng.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù đã có các nghiên cứu riêng lẻ về phản biện xã hội hoặc chính sách công, nhưng chưa có công trình khoa học chuyên sâu nào làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của phản biện chính sách công (PBCSC) trong điều kiện thể chế chính trị một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền và không có đối trọng như ở Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu của luận án là luận giải một cách khoa học về PBCSC; đánh giá thực trạng PBCSC tại Việt Nam (tập trung vào địa bàn các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên); từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và đổi mới quy trình PBCSC nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, thực thi chính sách trong quản lý hành chính công.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Khái quát tình hình nghiên cứu về PBCSC trong và ngoài nước, chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Hệ thống hóa lý luận về PBCSC, bổ sung cơ sở lý luận cho hoạt động PBCSC ở Việt Nam.
  3. Phân tích, đánh giá tình hình thực tiễn hoạt động PBCSC ở Việt Nam nói chung và các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên nói riêng để xác định các nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng phản biện.
  4. Đề xuất đổi mới quy trình PBCSC và hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động phản biện chính sách thời gian tới.

Giả thuyết khoa học của luận án: Phản biện chính sách công là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội, là thành tố của quá trình xây dựng, thực thi chính sách công và là hình thức tham gia công phổ biến. Thực hiện tốt phản biện chính sách sẽ giúp minh bạch hóa, nâng cao chất lượng chính sách, bảo đảm cân bằng giữa xã hội, kinh tế thị trường và nhà nước. Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu:

  • Tiền đề lý luận và thực tiễn của PBCSC ở Việt Nam là gì?
  • Vai trò của PBCSC trong xây dựng, thực thi chính sách và xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ, trong sạch, hiện đại?
  • Phản biện chính sách ở Việt Nam nên tổ chức theo mô hình, quy trình, hình thức và phương pháp nào để phù hợp với thực tiễn thể chế?
  • Các yếu tố nào ảnh hưởng và điều kiện nào bảo đảm cho chất lượng PBCSC?

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động PBCSC của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN), Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) Việt Nam tại một số tỉnh, thành phố thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên và hoạt động PBCSC của người dân trong khu vực.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Các lý thuyết, mô hình PBCSC trên thế giới; quan điểm, chủ trương của Đảng, quy định pháp luật Việt Nam về PBXH, PBCSC; chủ thể, quy trình, phương thức và điều kiện bảo đảm cho PBCSC.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát kinh nghiệm quốc tế tại Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Anh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore. Nghiên cứu thực địa trong nước tại 06 tỉnh, thành phố khu vực miền Trung, Tây Nguyên gồm: Kon Tum, Gia Lai (Tây Nguyên) và Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định (miền Trung).
  • Phạm vi thời gian: Các hoạt động PBCSC trong nước từ năm 2010 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về tư duy phản biện và phản biện xã hội

  • Các công trình quốc tế nền tảng:
    • Tác phẩm How We Think (1910) của John Dewey xác lập khái niệm tư duy phản biện (reflective thought) như một nỗ lực có ý thức nhằm thiết lập niềm tin dựa trên bằng chứng xác thực.
    • Các nghiên cứu về tư duy phê phán (critical thinking) trong đời sống công cộng của John Forester (1987), Francis Watanabe Dauer (1989), Alec Fisher và Michael Scriven, Periklis Pavlidis (2010), Brooke Noel Moore và Richard Parker.
    • Lý thuyết giải cấu trúc và phê phán quyền lực của Michel Foucault (The Subject and Power, Discipline and Punish) về mối quan hệ giữa quyền lực thống trị (dominant power) và quyền lực phản kháng (resistant power); quan điểm của Jacques Derrida về giải cấu trúc (deconstruction), chuyển đổi từ đối đầu bạo lực sang đối thoại và phản biện xã hội.
  • Các công trình trong nước về PBXH:
    • Tác phẩm Phản biện xã hội (2006) của Trần Đăng Tuấn tiếp cận PBXH như một thuộc tính tự nhiên và cơ chế tự cân bằng của xã hội.
    • Nghiên cứu của Nguyễn Trần Bạt (2006) xem PBXH là phản hành động tự nhiên, xác lập địa vị bình đẳng giữa công dân và nhà nước.
    • Đề tài cấp Nhà nước KX 10-06/06-10 (2009) do Trần Hậu chủ nhiệm nghiên cứu hình thức, giải pháp giám sát và PBXH đối với tổ chức, hoạt động của hệ thống chính trị.
    • Các bài viết học thuật của Hoàng Thị Ngân (2010), Hà Thị Thuỳ Dương (2012), Đặng Thị Thu Hương (2013), Hoàng Thuỷ Chung (2010), Tương Lai (2007), Hồ Bá Thâm và Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (2010), Trần Ngọc Đường (2011), Nguyễn Văn Mạnh và Tào Thị Quyên (2010), Nguyễn Đăng Dung (2010), Phạm Quang Tú (2012), Nguyễn Trọng Bình (2009).
    • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thọ Ánh nghiên cứu chức năng giám sát và PBXH của MTTQVN.

Nhóm nghiên cứu về phản biện chính sách công và sự tham gia công dân

  • Nghiên cứu quốc tế:
    • Nghiên cứu thang bậc tham gia công dân (A Ladder of Citizen Participation) của Sherry R. Arnstein (1969) phân chia 3 cấp độ với 8 mức độ tham gia.
    • Công trình Public Policymaking in America (1997) của Jerri Cockrel phân tích mô hình "Tam giác sắt" (Iron Triangle) và "Cụm quyền lực" (Power Clusters) trong hoạch định chính sách tại Hoa Kỳ.
    • Công trình Characterizing E-Participation in Policy-Making (2004) của Ann Macintosh phân tích việc ứng dụng công nghệ thông tin và nền dân chủ điện tử (E-Democracy) trong tham vấn, phản biện chính sách tại Vương quốc Anh.
    • Các tài liệu Handbook on Citizen Engagement (2008) của Bộ Tư pháp Canada và nghiên cứu của Susan D. Phillips, Michael Orsini (2002) về sự tham gia công dân (Citizen Engagement) trong tiến trình chính sách.
    • Công trình của Nguyễn Hải Hoành về hệ thống think tank và Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Hoa (CPPCC); các nghiên cứu so sánh thể chế Đông Á của Viện Khoa học Xã hội (2009) gắn với quan điểm "giá trị châu Á", tư tưởng của Lý Quang Diệu (Singapore) và Mahathir Mohamad (Malaysia).
  • Khoảng trống luận án giải quyết: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về PBCSC; làm rõ mô hình, phương thức vận hành của PBCSC trong điều kiện hệ thống chính trị nhất nguyên tại Việt Nam (nơi phản biện hướng tâm, tìm kiếm sự đồng thuận thay vì ly tâm đối trọng); khảo sát thực chứng tại 6 tỉnh miền Trung, Tây Nguyên để nhận diện các điểm nghẽn và đề xuất mô hình quy trình phản biện mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Luận án phân định hai cấp độ tiếp cận PBXH: cấp độ rộng (hướng đến thay đổi cấu trúc, khuôn mẫu xã hội) và cấp độ hẹp (hướng đến chính sách, quyết sách của Nhà nước và chủ trương của Đảng). Luận án lựa chọn tiếp cận ở cấp độ hẹp.

Khái niệm trung tâm: Phản biện chính sách công là hoạt động phản biện xã hội của công dân và tổ chức xã hội đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của Nhà nước, từ bước khởi sự, quy phạm hóa thành văn bản pháp lý, tổ chức thực hiện cho đến đánh giá và kết thúc chu trình chính sách.

Khung phân tích lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân.
  • Lý thuyết tư duy phản biện (John Dewey) và lý thuyết tương tác quyền lực (Michel Foucault, Jacques Derrida).
  • Khung thang bậc tham gia công dân (Sherry R. Arnstein) và chu trình chính sách công.
  • Lý thuyết về thể chế quản lý hành chính công và các mô hình tham vấn công dân (Hoa Kỳ, Canada, Anh, Trung Quốc).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp phân tích định tính và nghiên cứu định lượng:

  • Phương pháp nghiên cứu định tính:
    • Phân tích văn bản quy phạm pháp luật (Luật Ban hành VBQPPL, Luật MTTQVN, Quyết định 217-QĐ/TW...).
    • Phương pháp so sánh thể chế, phân tích tài liệu thứ cấp về mô hình PBCSC quốc tế.
    • Phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) đối với thực trạng PBCSC tại Việt Nam.
    • Phương pháp mô hình hóa và trừu tượng hóa để thiết kế quy trình phản biện gián tiếp và trực tiếp.
  • Phương pháp nghiên cứu định lượng (khảo sát thực địa):
    • Thu thập dữ liệu sơ cấp bằng bảng hỏi điều tra xã hội học với quy mô 600 phiếu tại 06 tỉnh, thành phố: Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định.
    • Đối tượng khảo sát gồm: cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; độ tuổi từ 30 đến 60; trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên.
    • Kỹ thuật xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS để thống kê, xử lý và phân tích số liệu điều tra.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phản biện chính sách công

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về PBXH và PBCSC. Tác giả phân tích các mô hình tham gia chính sách tiêu biểu:

  • Tại Hoa Kỳ: Phản biện mang tính đối kháng và thương lượng lợi ích, vận hành theo mô hình "Tam giác sắt" (cơ quan hành pháp, ủy ban lập pháp, nhóm lợi ích) và phát triển thành "Cụm quyền lực" với vòng tròn giao tiếp cường độ cao (Intense Communication Circle).
  • Tại Anh: Phản biện gắn với tiến trình dân chủ điện tử (E-Democracy) và tham gia điện tử (E-Participation) qua 3 cấp độ: cho phép, tham vấn, trao quyền.
  • Tại Canada: Mô hình tham gia công dân (Citizen Engagement) xác lập quá trình tương tác hai chiều xuyên suốt chu trình chính sách.
  • Tại các nước châu Á (Trung Quốc, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc): Hoạt động phản biện mang tính định hướng, có sự kiểm soát của Nhà nước, đề cao tính đồng thuận xã hội và hỗ trợ quản trị công. Chương này xác định các khoảng trống lý luận về PBCSC trong bối cảnh thể chế chính trị Việt Nam cần được giải quyết trong các chương tiếp theo.

Chương 2: Cơ sở lý luận về phản biện chính sách công

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích tính tất yếu khách quan, vai trò, quy trình, hình thức, công cụ và nguyên tắc của PBCSC:

  • Luận giải tính tất yếu: PBCSC xuất phát từ yêu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước, khắc phục tình trạng bất đối xứng thông tin, hạn chế lợi ích nhóm và nâng cao tính khả thi của chính sách.
  • Xác định chủ thể, đối tượng: Chủ thể gồm MTTQVN, các đoàn thể chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (nòng cốt là Liên hiệp các hội KH&KT), cơ quan báo chí và công dân; đối tượng là các chủ trương, định hướng, dự thảo chính sách và văn bản quy phạm pháp luật trong toàn bộ chu trình chính sách.
  • Hệ thống hóa các bảng khung lý thuyết:
    • Bảng thang bậc tham gia công dân (Arnstein): từ không tham gia, tượng trưng đến trao quyền thực chất.
    • Bảng phân định cấp độ, hình thức, công cụ phản biện: tham vấn văn bản, hội nghị đối thoại, diễn đàn chuyên gia, lấy ý kiến qua mạng.
    • Các nguyên tắc phản biện: tính khách quan, khoa học, công khai, xây dựng và tuân thủ pháp luật.

Chương 3: Thực trạng phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên

Chương 3 trình bày bức tranh thực tế về hoạt động PBCSC tại 6 địa phương khảo sát (Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định):

  • Khái quát bối cảnh kinh tế - xã hội và đánh giá khung pháp lý hiện hành (Hiến pháp 2013, Luật MTTQVN 2015, Quyết định 217-QĐ/TW, Luật Ban hành VBQPPL 2015).
  • Phân tích hoạt động thực tế của MTTQVN và Liên hiệp các hội KH&KT tại địa phương: Các hoạt động chủ yếu tập trung vào một số dự thảo quy hoạch, đề án phát triển kinh tế - xã hội lớn; hình thức phản biện phổ biến là tổ chức hội nghị lấy ý kiến chuyên gia và gửi văn bản góp ý.
  • Phân tích kết quả khảo sát 600 phiếu qua phần mềm SPSS về quy mô, phạm vi, nhận thức và mức độ tham gia của người dân:
    • Đa số ý kiến phản biện còn mang tính hình thức, thời gian dành cho việc nghiên cứu dự thảo chính sách quá ngắn.
    • Cơ chế tiếp nhận, phản hồi và giải trình của cơ quan soạn thảo đối với các ý kiến phản biện chưa được quy định chặt chẽ, dẫn đến tỷ lệ tiếp thu thực tế chưa cao.
    • Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác phản biện và nguồn lực tài chính, thông tin phục vụ phản biện còn nhiều hạn chế.
  • Đánh giá mô hình vận hành quy trình phản biện hiện hành (gồm phản biện gián tiếp qua tổ chức và phản biện trực tiếp của người dân), chỉ ra các điểm nghẽn về thể chế và quy trình thực hiện.

Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện chính sách công ở Việt Nam

Chương 4 xác định các quan điểm định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện hoạt động PBCSC:

  • Quan điểm định hướng: Đặt PBCSC trong tổng thể tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kết hợp hài hòa giữa tính khoa học và tính xã hội.
  • Hệ thống giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện khung pháp lý về PBCSC: Pháp điển hóa các quy định về quyền, trách nhiệm của chủ thể phản biện và cơ quan chủ trì soạn thảo; quy định bắt buộc về trách nhiệm giải trình và tiếp thu ý kiến phản biện.
    2. Đổi mới mô hình quy trình PBCSC: Xây dựng chi tiết mô hình đổi mới quy trình phản biện gián tiếp (qua MTTQ, các tổ chức xã hội) và quy trình phản biện trực tiếp của nhân dân tương ứng với các bước của chu trình chính sách (từ khởi sự, dự thảo, ban hành đến thực thi và đánh giá).
    3. Nâng cao năng lực cho các chủ thể phản biện: Tăng cường tính chuyên nghiệp của MTTQVN và Liên hiệp hội KH&KT; xây dựng mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học; nâng cao dân trí và ý thức tham gia chính sách của công dân.
    4. Hoàn thiện các điều kiện bảo đảm: Bảo đảm tính công khai, minh bạch của dữ liệu thông tin chính sách; ứng dụng công nghệ thông tin trong tham vấn công (tham gia điện tử); bảo đảm kinh phí và chế độ đãi ngộ cho hoạt động phản biện độc lập.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về PBCSC trong điều kiện thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền tại Việt Nam; xác định bản chất của PBCSC ở Việt Nam là hoạt động mang tính hướng tâm, xây dựng, nhằm tập trung dân chủ và kiến tạo đồng thuận xã hội.
  • Luận giải vai trò của PBCSC như một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước bằng trí tuệ xã hội, phân định rõ các cấp độ, hình thức, công cụ và điều kiện bảo đảm chất lượng phản biện trong chu trình chính sách.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Cung cấp dữ liệu thực chứng thông qua khảo sát 600 phiếu tại 06 tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên về thực trạng hoạt động PBCSC của MTTQVN, Liên hiệp các hội KH&KT và người dân.
  • Nhận diện các điểm nghẽn căn bản của hệ thống PBCSC hiện hành: thiếu quy trình chuẩn hóa, thiếu cơ chế bắt buộc giải trình của cơ quan soạn thảo, thông tin không đối xứng và hạn chế về năng lực chủ thể.
  • Xây dựng sơ đồ mô hình đổi mới quy trình phản biện chính sách (cả dạng thức trực tiếp và gián tiếp) theo từng bước cụ thể của chu trình chính sách công, tạo công cụ tham khảo cho việc chuẩn hóa quy trình lập pháp và hoạch định chính sách tại Việt Nam.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
|                 HỆ THỐNG MÔ HÌNH VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CỦA LUẬN ÁN                    |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Hoàn thiện thể chế & khung pháp lý                                                 |
|    - Quy định bắt buộc trách nhiệm giải trình, tiếp thu của cơ quan soạn thảo         |
|    - Pháp điển hóa quy chế phản biện xã hội thành văn bản luật                        |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| 2. Chuẩn hóa quy trình phản biện                                                      |
|    - Mô hình đổi mới quy trình phản biện gián tiếp (qua MTTQ và tổ chức xã hội)       |
|    - Mô hình đổi mới quy trình phản biện trực tiếp của công dân                       |
|    - Tích hợp yêu cầu phản biện vào từng giai đoạn của chu trình chính sách           |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| 3. Nâng cao năng lực chủ thể & điều kiện bảo đảm                                      |
|    - Phát huy vai trò nòng cốt của MTTQVN và Liên hiệp các hội KH&KT                  |
|    - Ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy tham gia điện tử (E-Participation)         |
|    - Bảo đảm minh bạch thông tin và nguồn lực tài chính cho hoạt động phản biện       |
+---------------------------------------------------------------------------------------+

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi khảo sát thực địa khu biệt tại 06 tỉnh thuộc khu vực miền Trung và Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định), chưa thực hiện khảo sát diện rộng tại các vùng kinh tế trọng điểm khác ở miền Bắc và miền Nam.
    • Đối tượng khảo sát mẫu 600 phiếu tập trung vào nhóm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động có trình độ từ cấp III trở lên trong độ tuổi 30-60, chưa phản ánh đầy đủ quan điểm của các nhóm xã hội đặc thù khác (như nhóm yếu thế, cư dân nông thôn vùng sâu).
    • Dữ liệu nghiên cứu phản ánh thực trạng trong giai đoạn từ năm 2010 đến thời điểm bảo vệ luận án (2019).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm trên quy mô liên vùng để so sánh sự khác biệt về mức độ tham gia phản biện giữa các vùng miền.
    • Nghiên cứu sâu hơn về khung pháp lý và giải pháp kỹ thuật số cho mô hình phản biện chính sách điện tử (E-Participation / E-Democracy) tại Việt Nam.
    • Đo lường định lượng tác động và hiệu quả của các kiến nghị phản biện xã hội đối với chất lượng của các văn bản chính sách sau khi được ban hành.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng và hoạt động sau:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, phản hồi và giải trình ý kiến phản biện xã hội.
  • Đối với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Liên hiệp các hội KH&KT các cấp: Cung cấp tài liệu tham khảo về mô hình quy trình tổ chức phản biện chính sách gián tiếp, các bước thu thập, xử lý thông tin và lập luận phản biện có căn cứ khoa học.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp khung lý thuyết tổng quan về tư duy phản biện, thang bậc tham gia công dân, mô hình cụm quyền lực và các kinh nghiệm quốc tế (Hoa Kỳ, Anh, Canada, Trung Quốc) trong chuyên ngành Quản lý hành chính công và Khoa học chính sách.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa phản biện chính sách công như thế nào?

Luận án định nghĩa: Phản biện chính sách công là hoạt động phản biện xã hội của công dân và tổ chức xã hội đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách công của Nhà nước, từ bước khởi sự đến quy phạm hóa chính sách thành văn bản pháp lý, tổ chức thực hiện, đánh giá và kết thúc chu trình chính sách.

2. Dữ liệu thực địa của luận án được thu thập tại đâu và xử lý bằng công cụ nào?

Dữ liệu thực địa được thu thập qua 600 phiếu điều tra xã hội học tại 06 địa bàn: Kon Tum, Gia Lai (Tây Nguyên) và Quảng Trị, Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định (miền Trung). Mẫu khảo sát gồm cán bộ, công chức, viên chức và người lao động từ 30-60 tuổi, trình độ học vấn từ cấp III trở lên. Số liệu được phân loại qua lược đồ thông tin và xử lý bằng phần mềm SPSS.

3. Luận án đã điểm luận những lý thuyết và mô hình quốc tế tiêu biểu nào?

Luận án điểm luận các lý thuyết và mô hình:

  • Lý thuyết tư duy phản biện của John Dewey.
  • Lý thuyết giải cấu trúc và tương tác quyền lực của Michel Foucault, Jacques Derrida.
  • Khung thang bậc tham gia công dân của Sherry R. Arnstein.
  • Mô hình "Tam giác sắt" và "Cụm quyền lực" trong hoạch định chính sách tại Hoa Kỳ của Jerri Cockrel.
  • Mô hình tham gia điện tử (E-Participation) trong dân chủ điện tử tại Vương quốc Anh của Ann Macintosh.
  • Hướng dẫn tham gia công dân của Chính phủ Canada (Susan D. Phillips, Michael Orsini).
  • Mô hình think tank và vai trò của CPPCC tại Trung Quốc (Nguyễn Hải Hoành).

4. Điểm đặc thù của phản biện chính sách công tại Việt Nam được luận án chỉ ra là gì?

Luận án chỉ ra rằng trong hệ thống chính trị Việt Nam (vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ, do một Đảng duy nhất lãnh đạo và không có đối trọng), PBCSC không mang tính chất đối lập hay ly tâm để phân chia quyền lực như ở các nước phương Tây. PBCSC tại Việt Nam là phương thức thực hành dân chủ, mang tính hướng tâm, tìm kiếm sự đồng thuận xã hội nhằm hỗ trợ Nhà nước tối ưu hóa chất lượng chính sách và kiểm soát quyền lực bằng trí tuệ xã hội.

5. Tác giả đề xuất đổi mới những mô hình quy trình phản biện nào?

Tác giả thiết kế và đề xuất đổi mới hai mô hình quy trình chi tiết: mô hình đổi mới quy trình phản biện gián tiếp (thực hiện qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội như MTTQVN, Liên hiệp hội KH&KT) và mô hình đổi mới quy trình phản biện trực tiếp (do công dân thực hiện), gắn liền với từng giai đoạn của chu trình chính sách công.

Kết luận

Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phản biện chính sách công và phân tích tính đặc thù của hoạt động này trong thể chế chính trị một đảng cầm quyền tại Việt Nam. Thông qua khảo sát thực tiễn tại 6 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên, công trình đã chỉ ra những khoảng trống về pháp lý, hạn chế về năng lực chủ thể và sự thiếu hụt của quy trình tiếp nhận, giải trình phản biện. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và mô hình đổi mới quy trình phản biện trực tiếp lẫn gián tiếp theo chu trình chính sách, góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước và chất lượng chính sách công.