Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phản biện chính sách công. Chương 2: Cơ sở lý luận về phản biện chính sách công. Chương 3: Thực trạng phản biện chính sách công tại các tỉnh thuộc khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng phản biện chính sách công ở Việt Nam.
7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHẢN BIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG 1. Các công trình nghiên cứu về phản biện xã hội 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Thể chế quản lý trong các nền hành chính công hiện đại luôn hƣớng đến đảm bảo sự hài hòa giữa vai trò của nhà nƣớc và xã hội. Sự tham gia của ngƣời dân vào hoạt động của nhà nƣớc đƣợc khuyến khích nhằm gia tăng sự kiểm soát quyền lực nhà nƣớc từ bên ngoài và tranh thủ tối đa sự hỗ trợ của xã hội đối với hoạt động của chính quyền.
Công dân đƣợc xem là một chủ thể bình đẳng trong hoạt động tham gia công, có quyền bày tỏ quan điểm, lợi ích, chính kiến và tham gia quyết định các vấn đề quản lý nhà nƣớc theo nguyên tắc đa số và hợp hiến. Trên quan điểm cho rằng ngƣời bị ảnh hƣởng bởi quyết định có quyền đƣợc tham gia vào quá trình ra quyết định. Sự tham gia của ngƣời dân đƣợc coi nhƣ một cách để trao quyền và là một phần quan trọng của quản trị dân chủ, dựa trên nguyên tắc xem con ngƣời là trung tâm của quá trình phát triển. Trƣớc bối cảnh của sự bùng nổ xã hội tri thức trong hơn nửa thế kỷ qua, việc mở rộng hoạt động tham gia, phản biện của nhân dân đối với nhà nƣớc cũng chính là phƣơng pháp để quản lý các dòng tri thức xã hội, sự dụng hiệu quả trí tuệ tập thể của cộng đồng vào phát triển kinh tế - xã hội.
PBXH - thuộc tính của xã hội dân chủ, đƣợc xem là một nguyên tắc chính trị thực hành và đƣợc thực hiện rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bản chất của nó là việc áp dụng tƣ duy phê phán đƣợc tổ chức khoa học vào việc đánh giá các hoạt động của nhà nƣớc. Đồng thời cũng là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và là một nội dung quan trọng của hoạt động tham gia công dân (public citizens participation). Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về bản chất, vai trò, giá trị và thực hành PBXH đã có từ rất sớm.
Một trong những công trình nghiên cứu đặt nền móng cho việc nhận thức giá trị của phản biện và vận dụng nó vào thực tiễn xã hội là tác phẩm "Chúng ta suy nghĩ như thế nào" (How We Think) của John Dewey (xem Phụ lục 36), xuất bản năm 1910 tại Boston, Hoa Kỳ. Nghiên cứu này trình bày về quan hệ giữa tƣ duy phản biện với quá trình giáo dục con ngƣời và phát triển xã hội, về việc áp dụng tƣ 8 duy phản biện vào giáo dục và hoạt động thực tiễn xã hội nhằm xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, phát triển và vận động hợp quy luật. Tại cuốn sách này, John Dewey đã lần đầu tiên đƣa ra khái niệm "tƣ duy phản biện " (Reflective thought) là: "là sự suy xét chủ động, kiên trì và cẩn thận về một niềm tin hay một giả định khoa học dƣới ánh sáng của những căn cứ bảo vệ nó và những kết luận xa hơn mà nó hƣớng tới, tạo thành tƣ duy phản biện…là một nỗ lực có ý thức và tự nguyện để thiết lập niềm tin vào một cơ sở có lý do vững chắc" (…Active, persistent, and careful consideration of any belief or supposed form of knowledge in the light of the grounds that support it, and the further conclusions to which it tends, constitutes reflective thought…it is a conscious and voluntary effort to establish belief upon a firm basis of reasons) [89, tr. Theo tác giả, tƣ duy phản biện chính là khởi đầu của nhận thức chân chính, đó chính là quá trình suy xét cẩn trọng, bằng sự đối chiếu, so sánh, có bằng chứng xác thực để khẳng định một vấn đề là đúng hay sai.
Sự dội lại (Reflection) của tƣ duy không phải là quá trình phản ánh hiện thực đơn thuần vào nhận thức mà là quá trình tự nghi vấn, phê phán, đánh giá một cách khoa học từ nhiều góc độ khác nhau đối với hiện thực nhằm thẩm định và chứng minh niềm tin, chân lý là đúng đắn. Mục đích của phản biện không phải là kiến thức mà là niềm tin vào thực tế hoặc sự thật (…do not aim at knowledge, at belief about facts or in truths) [89, tr. Quá trình này sẽ diễn ra theo hai hƣớng, chấp nhận hay từ chối vấn đề nào đó vì những lý do để nó có thể hoặc không thể xảy ra (It is marked by acceptance or rejection of something as reasonably probable or improbable) [89, tr. Việc phản biện để xây dựng niềm tin không phải dựa trên những thứ mà chủ thể có, nó phải dựa trên nền tảng là những bằng chứng xác thực nhƣ: chứng cớ, vật chứng, sự xác nhận và chứng minh (Reflection thus implies that something is believed in (or disbelieved in), not on its own direct account, but through something else which stands as witness, evidence, proof, voucher, warrant; that is, as ground of belief) [89, tr.
Mục tiêu mà sự phản biện hƣớng đến là khám phá thực trạng để phục vụ cho mục đích của chủ thể (reflection is aimed at the discovery of facts that will serve this purpose) [89, tr. Tƣ duy phản biện vì thế, là phƣơng pháp nhận thức tự nguyện, có giá trị dân chủ cao nhất trong việc tìm kiếm sự thật, khẳng định chân lý và xây dựng niềm tin. Quan điểm về tƣ duy phản biện của John Dewey từ khi ra đời đã đƣợc ủng hộ mạnh mẽ và áp dụng rộng rãi trong toàn bộ nền giáo dục quốc dân Hoa Kỳ, đóng góp lớn vào việc xây dựng 9 nền dân trị của đất nƣớc này, rồi nhanh chóng đƣợc truyền bá trên toàn thế giới. Có thể nói tƣ tƣởng của John Dewey về tƣ duy phản biện nhằm xây dựng một nền giáo dục nhân bản, dân chủ và khoa học đã vƣợt ra ngoài lãnh địa của triết học giáo dục và trở thành nền tảng phƣơng pháp của nhận thức đối với các vấn đề trong xã hội hiện đại.
Tƣ tƣởng về tƣ duy phản biện (Reflective thinking) của John Dewey đƣợc nghiên cứu, phát triển và áp dụng rộng rãi không chỉ trong lĩnh vực giáo dục và khoa học và công nghệ (KH&CN) mà cả trong lĩnh vực quản trị xã hội, quản lý nhà nƣớc và xây dựng, thực thi chính sách công trong suốt hơn một thế kỷ qua ở nhiều nƣớc trên thế giới. Nó thƣờng đƣợc định danh bằng khái niệm tƣ duy phê phán (Critical thinking), có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: "Lý thuyết phê phán và đời sống công cộng" (Critical theory and Public Life), John Forester (1987). Publichsed by MIT Press, USA; "Tư duy phê phán: Định nghĩa và đánh giá" (Critical Thinking: Its Definition and Assessment), Fisher, Alec and Scriven, Michael. (Belmont, CA, Thomson Wadsworth); "Tư duy phê phán: Giới thiệu về lý luận" (Critical Thinking: An Introduction to Reasoning), Dauer, Francis Watanabe (1989); "Tư duy phê phán như phép biện chứng: Cách tiếp cận của Hegelian-Marxist" (Critical Thinking as Dialectics: A Hegelian-Marxist Approach), Pavlidis, Periklis (2010), Journal for Critical Education Policy Studies.8(2); "Tư duy phê phán" (Critical Thinking), Moore, Brooke Noel and Parker, Richard.
Published by Mc Graw- Hill… Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đánh giá rất cao giá trị thực tiễn của tƣ duy phản biện trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhƣ là con đƣờng phát triển biện chứng để phát huy năng lực bản chất ngƣời; thúc đẩy xã hội phát triển ngày càng bình đẳng, cởi mở, năng động, dân chủ và tự do. Tại châu Âu, hai nhà tƣ tƣởng đƣợc cho là có ảnh hƣởng lớn nhất đến sự phát triển của trào lƣu phản biện và đối thoại xã hội là Michel Foucault (xem Phụ lục 37) và Jacques Derrida (xem Phụ lục 38). Nguyên là những ngƣời cộng sản, chịu ảnh hƣởng sâu sắc của chủ nghĩa Marx, hai ông đã phát triển nguyên lý biện chứng của chủ nghĩa Marx trong lý thuyết phê phán các thể chế xã hội. Lý thuyết của 10 Michel Foucault giải quyết các mối quan hệ giữa quyền lực và kiến thức và cách chúng đƣợc sử dụng nhƣ một hình thức kiểm soát xã hội thông qua các TCXH.
Tƣ tƣởng, các bài viết của ông về quyền lực, tri thức và diễn ngôn có ảnh hƣởng rộng lớn trong xã hội hiện đại. Nội dung chủ đạo, xuyên suốt trong các tác phẩm của Foucault là sự hình thành, phát triển, tha hóa của quyền lực và con đƣờng sử dụng tri thức để chống lại sự tha hóa của quyền lực, giải cấu trúc quyền lực nhằm đạt đến bình đẳng và tự do chân chính cho con ngƣời. Tƣ tƣởng này thể hiện chủ yếu trong những công trình tiêu biểu của ông nhƣ: "Chủ thể và quyền lực" (The Subjct and Power), "Kỷ luật và trừng phạt" (Discipline and Punish). Trong tác phẩm "Chủ thể và quyền lực", Foucault khẳng định quyền lực không phải là một thực thể cố định mà là mối quan hệ tƣơng tác giữa quyền lực thống trị (dominant power) và quyền lực phản kháng (resistant power).
"Quyền lực không phải là một thể chế, hay một cấu trúc; cũng không phải là sức mạnh thiên bẩm; nó là cái tên đƣợc gắn cho một hoàn cảnh chiến lƣợc phức tạp trong một xã hội cụ thể" (Power is not an institution, and not a structure; neither is it a certain strength we are endowed with; it is the name that one attributes to a complex strategical situation in a particular society) [84, tr. Trong đó, quyền lực phản kháng nhƣ là một bản năng sinh tồn nguyên thủy, nó phái sinh ra quyền lực thống trị với tƣ cách là một sản phẩm xã hội, quyền lực thống trị sinh ra để kìm nén mọi sự phản kháng. Trên thực tế, con ngƣời luôn chống lại những hạn chế để đƣợc tự do, nhƣng khi đoạt đƣợc tự do, nó lại tạo ra các luật lệ mang tính chuyên chế để hạn chế tự do của kẻ khác. Tức là tự nó kiến tạo nên quyền lực thống trị, đây là nghịch lí đƣợc tạo ra bởi sự tha hóa của quyền lực trong sự vận động của lịch sử.
Khi đã giữ vai trò trung tâm, quyền lực thống trị sẽ tìm cách triệt tiêu mọi sự phản pháng để giữ vị trí độc tôn của mình. Nó áp đặt một trật tự chặt chẽ đƣợc mệnh danh là tri thức. Công cụ để vận hành guồng máy tri thức - trật tự ấy không gì hơn là hệ thống nhà tù, các loại kỷ luật và hình phạt nghiêm khắc.