Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao chất lượng nhân lực quản lý nhà nước của quận. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Chương 4: Một số quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực QLNN của quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NHÂN LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC CẤP QUẬN, HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài Liên quan đến vấn đề nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và nhân lực quản lý nhà nƣớc có nhiều công trình nghiên cứu của các tổ chức, nhà khoa học nƣớc ngoài luận bàn, tiêu biểu nhƣ: Charles Greer (2001), "Strategic human resources management" (Chiến lƣợc quản lý nguồn nhân lực) phân tích sự tác động qua lại giữa nguồn nhân lực với các chiến dịch quản lý cũng nhƣ những định hƣớng về đầu tƣ phát triển nguồn nhân lực [39, tr41]. Arthur Sherman, George Bohlander và Scott Swell (1997) "Managing human resources" (Quản lý nguồn nhân lực) với phần tổng quan về quản lý và phát triển nguồn nhân lực [38, tr102].
Cũng đề cập tới vấn đề nguồn nhân lực ở các nƣớc châu Á, nhƣng những ấn phẩm dƣới đây lại quan tâm tới khía cạnh khác của vấn đề, đó là những vấn đề xã hội đặt ra đối với quá trình phát triển của các quốc gia đang phát triển, kém phát triển tại châu Á. Một số công trình nghiên cứu đáng chú ý nhƣ cuốn Human resource policy and economic development (Chính sách nguồn nhân lực và phát triển kinh tế), xuất bản vào năm 1990 và tái bản năm 1991 của Ngân hàng Phát triển châu Á [36, tr23] , đề cập đến chính sách và xu hƣớng phát triển kinh tế, biến đổi cơ cấu lao động, nguồn nhân lực lao động ở các nƣớc đang phát triển ở châu Á; cuốn Human resources in development along the Asian-Pacific Rim, (Nguồn nhân lực trong phát triển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng) [37, tr76], nghiên cứu các chính sách kinh tế, sự thay đổi dân số, y tế, giáo dục, các nƣớc châu Á cũng đã rút ra những bài học về chính sách phát triển nguồn nhân lực qua khủng hoảng tài 4 chính, tiền tệ năm 1997. Một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do chƣa chú ý đúng mức đến phát huy nội lực trong phát triển, thiếu sự độc lập về trí tuệ và năng lực quản lý nguồn nhân lực và thị trƣờng lao động tại chính đất nƣớc mình. Các công trình nghiên cứu trong nước Ở trong nƣớc, trên địa bàn thành phố Hà Nội và quận Long Biên cũng có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học luận bàn một cách hệ thống vấn đề nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và nhân lực quản lý nhà nƣớc, tiêu biểu nhƣ: Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế- xã hội , đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển con ngƣời trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và xây dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục Việt Nam để phục vụ hiệu quả việc phát triển con ngƣời [16, tr32].
Mai Quốc Chính (chủ biên) (1996), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp, chính sách chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nƣớc. [6, tr98] Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam. Trong cuốn sách này, tác giả đã trình bày có tính hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con ngƣời trong phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời, đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con ngƣời trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam [11, tr 54]. Nguyễn Minh Đƣờng, Phan Văn Kha (đồng chủ biên) (2005), Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Cuốn sách đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và chỉ ra thực trạng của lực lƣợng lao động cũng nhƣ đào tạo nhân lực 5 có trình độ. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm phát triển nhân lực này để đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế [15, tr 67]. Những khoảng trống về mặt khoa học Qua việc nghiên cứu các công trình trên, có thể nhận xét nhƣ sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trên đã hệ thống hóa, phân tích khái quát vấn đề lý luận chung, một số công trình đã phân tích đánh giá thực trạng và đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng nhân lực QLNN. Thứ hai, các công trình nêu trên, ở mức độ khác nhau đã cung cấp một số tƣ liệu và kiến thức chung cho luận văn.
Thứ ba, việc nghiên cứu về lý luận và thực tiễn chất lƣợng nguồn nhân lực QLNN mang tính đặc thù riêng của quận Long Biên chƣa đƣợc tiếp cận, phân tích và thực hiện một cách hệ thống, chuyên sâu. Luận văn góp phần bổ sung, luận giải thêm một số vấn đề lý luận, thực tiễn nhắm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực QLNN, đặc biệt sẽ hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu về thực tiễn nguồn nhân lực QLNN quận Long Biên. Vì vậy, đây là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lắp với các công trình đã công bố. Cơ sở lý luận, thực tiễn về nâng cao chất lƣợng nhân lực quản lý nhà nƣớc cấ p quâ ̣n, huyêṇ 1.
Nhân lực quản lý nhà nước: khái niệm, phân loại, vai trò 1. Khái niệm chung về nhân lực Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con ngƣời có sức lao động. Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời.
Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc 6 hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con ngƣời.
Với tƣ cách là một NNL của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trong chƣơng trình cấp nhà nƣớc KX - 07, NNL đƣợc hiểu là "số dân và chất lƣợng con ngƣời, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc". Nhƣ vậy, NNL đƣợc biểu hiện trên hai mặt số lƣợng và chất lƣợng: Về số lƣợng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có đƣợc của cá nhân và quy định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Số lƣợng NNL đó vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT-XH, nếu số lƣợng không tƣơng xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hƣởng không tốt đến quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nƣớc [8, tr 65].
Về chất lƣợng: NNL đƣợc biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp của ngƣời công nhân đó là yêu nƣớc. Trong ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phƣơng thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh thần đạo đức tác phong là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL bởi có con ngƣời mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội. Từ những quan niệm của các tác giả nƣớc ngoài và các tác giả trong nƣớc, có thể hiểu NNL là tổng hợp những con ngƣời cụ thể có khả năng tham gia vào quá trình lao động của một tổ chức, một địa phƣơng, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực; trí lực; nhân cách) và tính năng động xã hội của con ngƣời, nhóm ngƣời, tổ chức, địa phƣơng, vùng, quốc gia.
Tính thống nhất đó thể hiện ở quá trình biến nguồn nhân lực con ngƣời thành vốn con ngƣời đáp ứng yêu cầu phát triển. Nói cách khác, NNL bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia vào nền sản xuất xã hội theo luật lao động quy định. Khái niệm nhân lực quản lý nhà nước cấ p quận, huyê ̣n Quản lý nhà nƣớc (QLNN) còn đƣợc gọi là quản lý HCNN là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện quyền lực nhà nƣớc. Đó chính là chức năng quan trọng nhất của bất kỳ nhà nƣớc nào.
“Theo nghĩa rộng, QLNN là sự tổ chức và quản lý sự vụ hữu quan của mọi tổ chức và đoàn thể xã hội, theo nghĩa hẹp là hoạt động quản lý HCNN do Chính phủ đại diện Nhà nƣớc thực thi và bảo đảm bằng sức cƣỡng chế của nhà nƣớc”. Trên thực tế, QLNN luôn kết hợp giữa sự quản lý theo lãnh thổ, quản lý theo lĩnh vực và quản lý theo ngành. Khái niệm về cán bộ, công chức đã đƣợc quy định tại Điều I Pháp lệnh cán bộ, công chức (sửa đổi, bổ sung năm 2003).