Chương 1 XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC XUẤT KHẨU 1.1 Xuất khẩu lao động và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.1 Xuất khẩu lao động 1. Khái niệm Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về XKLĐ: Hợp tác quốc tế về lao động là thuật ngữ được sử dụng trong một số nước XHCN trước đây, được hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định đã được thoả thuận. Đưa người lao động và chuyên gia đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp luật Việt Nam từ năm 1991. Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là một hướng giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học, kỹ thuật giữa Việt Nam với những nước sử dụng lao động theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi, tôn trọng pháp luật và truyền thống dân tộc của nhau.
Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam từ năm 2006 đến nay theo Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 10, khoá XI (tháng 11/2006). Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận người 12 lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Luật này (Điều 3, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng). Tuy nhiên XKLĐ vẫn là thuật ngữ được sử dụng phổ biến và có tính chất thông dụng nhất. XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
Xét theo khía cạnh dân số: XKLĐ là quá trình di cư quốc tế. Tuy nhiên đây chỉ là sự di cư tạm thời vì người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn nhất định. Xét theo khía cạnh kinh tế: XKLĐ là một hình thức của hoạt động kinh tế đối ngoại góp phần tăng nguồn thu cho đất nước. Xét về phạm vi XKLĐ: - XKLĐ có sự chuyển dịch qua biên giới là hoạt động chuyển dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Tham gia vào quá trình này gồm: Bên nhập khẩu lao động, bên xuất khẩu lao động và người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài. - XKLĐ tại chỗ là hình thức lao động của một nước làm việc cho các doanh nghiệp nước ngoài đặt tại nước đó hoặc lao động làm việc trong các doanh nghiệp của nước sở tại có chức năng làm hàng gia công cho nước ngoài. Đề tài này nghiên cứu XKLĐ có sự chuyển dịch qua biên giới. Xét về đối tượng XKLĐ: - XKLĐ phổ thông: là XKLĐ đã tốt nghiệp THCS hoặc THPT, chưa được đào tạo nghề.
- XKLĐ kỹ thuật là xuất khẩu những lao động đã được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật … Họ là những lao động có tay nghề, trình độ chuyên môn nhất định, có thể làm việc tại 13 các doanh nghiệp có trang thiết bị máy móc hiện đại. Thu nhập của lao động kỹ thuật thường cao hơn lao động phổ thông. - Xuất khẩu lao động chuyên gia là xuất khẩu những lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học như: kỹ sư, bác sỹ, chuyên gia về một lĩnh vực nào đó. Họ được đưa sang nước ngoài làm việc để làm chuyên gia tư vấn, điều hành, quản lý… Lao động chuyên gia thường có mức thu nhập cao.
- Tu nghiệp sinh đi làm việc ở nước ngoài là những người lao động đang làm việc tại một doanh nghiệp và được doanh nghiệp đó cử đi đào tạo, nâng cao tay nghề ở nước ngoài. Hình thức này thường được áp dụng ở các công ty liên doanh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài. Xét về chủ thể cung cấp LĐXK: - Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ XKLĐ cung ứng nguồn nhân lực đi làm việc ở nước ngoài theo yêu cầu của doanh nghiệp nhập khẩu lao động. Các doanh nghiệp XKLĐ phải được Nhà nước cấp giấy phép XKLĐ.
Hoạt động XKLĐ của các doanh nghiệp này bao gồm những khâu chủ yếu sau: tìm kiếm thị trường; thẩm định và ký kết hợp đồng; tuyển chọn lao động; đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động; quản lý lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài; thanh lý hợp đồng. - Doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu công trình, dự án ở nước ngoài đưa người lao động sang nước ngoài làm việc là hình thức người lao động thuộc quyền quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam được đưa sang làm việc tại các công trình do các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài giao thầu khoán, chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng. - Tổ chức, cá nhân đầu tư ra nước ngoài và đưa người lao động sang nước ngoài để thực hiện dự án đó. 14 - Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hình thức thực tập nâng cao tay nghề.
Tính tất yếu khách quan của xuất khẩu lao động. Các quốc gia trên thế giới có sự phát triển không đồng đều về kinh tế, xã hội cũng như sự phân bố không đều về tài nguyên, nguồn lực sản xuất… Vì thế không một quốc gia nào có đầy đủ và đồng bộ các yếu tố sản xuất. Thị trường lao động quốc tế hình thành đã giải quyết được sự mất cân bằng về nguồn nhân lực giữa các quốc gia. XKLĐ được chính thức xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX và đã được nhiều quốc gia coi là một hoạt động mang tính chiến lược, là quốc sách lâu dài để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
XKLĐ chính là quá trình trao đổi, mua bán sức lao động giữa hai đối tác của hai quốc gia khác nhau. Khi sức lao động trở thành hàng hoá thì sự chênh lệch về giá nhân công cùng với sự thiếu hụt nguồn nhân lực ở một số quốc gia sẽ là động lực thúc đẩy sự di chuyển sức lao động từ nước này sang nước khác. XKLĐ là phương thức để thực hiện phân công lao đông quốc tế, đưa các nước đang phát triển hoà nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. XKLĐ là một tất yếu khách quan trong điều kiện toàn cầu hoá diễn ra sôi động hiện nay.
Chính sự phân bố không đồng đều về dân cư, điều kiện tự nhiên đã góp phần hình thành luồng di cư quốc tế. Lao động ở những nước có nền kinh tế chậm phát triển sẽ hướng tới những quốc gia có đời sống kinh tế khá hơn; lao động ở những nước có mật độ dân cư cao sẽ di chuyển đến những nước có mật độ dân cư thấp… Xuất nhập khẩu lao động diễn ra ở các nước phát triển cũng như đang phát triển. Đối với những nước có nền kinh tế phát triển: tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, gắn liền với việc áp dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, năng suất, chất lượng sản phẩm cao, tuy nhiên tốc độ tăng 15 dân số thấp, nguồn lao động trong nước thường không đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh, nên họ cần nhập khẩu lao động ở các trình độ khác nhau từ thấp đến cao. Ngược lại các nước phát triển cũng có hoạt động xuất khẩu chuyên gia sang làm việc tại các nước phát triển khác với mục đích hợp tác nghiên cứu và xuất khẩu chuyên gia sang các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển để giúp chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó.
Những nước đang phát triển hoặc kém phát triển thường có nguồn nhân lực dồi dào, nhưng giá nhân công rẻ, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm cao, nhu cầu tìm kiếm việc làm, cải thiện thu nhập của lao động ở đây là rất lớn. Vì vậy XKLĐ đã trở thành hoạt động kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia. Ngược lại trong quá trình phát triển kinh tế, các nước này cũng có nhu cầu nhập khẩu chuyên gia để được tư vấn, hướng dẫn thực hiện những phần việc đòi hỏi công nghệ, kỹ thuật cao, tiên tiến hiện đại mà nhân lực trong nước chưa đáp ứng được. Bên cạnh đó còn có sự chuyển dịch nguồn nhân lực giữa các nước đang phát triển trên cơ sở nhu cầu – khả năng cung ứng của các bên tham gia.
Đặc điểm cơ bản của thị trường XKLĐ: Thị trường XKLĐ là thị trường quốc tế, là tổng thể các quan hệ giữa bên cung lao động (bên XKLĐ) và bên cầu lao động (bên sử dụng lao động) được thực hiện theo nguyên tắc thoả thuận về việc làm, tiền công và các điều kiện làm việc khác bằng hình thức hợp đồng XKLĐ theo quy định của pháp luật lao động. Thị trường XKLĐ có những đặc điểm cơ bản sau: - Đặc điểm về cung trên thị trường XKLĐ: Cung về lao động xuất khẩu là lượng lao động có nhu cầu và sẵn sàng đi XKLĐ với mức giá nhất định. Nguồn cung LĐXK chủ yếu là ở các nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nơi có nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công thấp. Khi 16 cung lao động thay đổi về mặt chất lượng sẽ tác động đến giá và cầu lao động.
Khi chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao, đáp ứng tốt nhu cầu của chủ sử dụng lao động, có thể thay thế được nguồn nhân lực tại chỗ, khi đó giá nhân công và cầu về lao động có chất lượng sẽ tăng. - Đặc điểm về cầu trên thị trường XKLĐ: Cầu về lao động xuất khẩu là lượng lao động mà bên có nhu cầu sử dụng lao động có thể chấp nhận với mức giá nhất định. Cầu LĐXK tuỳ thuộc vào thị trường lao động thế giới luôn biến động và có tính cạnh tranh cao. Ở một số nước nền kinh tế phát triển có dân số già, thiếu lao động để điều khiển các dây truyền, máy móc, thiết bị sản xuất và thiếu cả những lao động thực hiện những công việc giản đơn, độc hại, nguy hiểm, nặng nhọc, kém hấp dẫn hoặc giá nhân công trong nước cao… Vì vậy các nước này có nhu cầu nhập khẩu lao động.