CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÔNG TY 1. Cơ sở lý luận về chất lượng nguồn nhân lực trong công ty 1. Nhân lực “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia và quá trình lao động” (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2012).
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách. Nhân lực theo nghĩa đen, chỉ là sức người, sức người bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần. Không nên hiểu sức người chỉ ở mặt tài mà bao hàm cả mặt đức, đó là cái gốc của con người. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) hay còn được gọi “nguồn lực con người” bắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh “human resource” được sử dụng rộng rãi từ thập niên 60 của thế kỷ 20, khái niệm này được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. “NNL là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế- xã hội trong một cộng đồng” (Liên Hợp Quốc, 2000). “NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” “ Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được 7 thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2012).
“ NNL là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH” (Phạm Minh Hạc, 2001). Nếu dựa vào khả năng lao động của con người và giới hạn của tuổi lao động thì nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động mà không kể tới trạng thái có làm việc làm hay không có việc làm. Khái niệm về NNL có tính trừu tượng. Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động và là nguồn nhân lực xã hội.
Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề chất lượng nguồn nhân lực trong công ty. Vậy trong phạm vi công ty nguồn nhân lực được hiểu như sau: - “ Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” (Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm, 2012). - “ Nguồn nhân lực công ty là lực lượng lao động của từng công ty, là số người có trong danh sách của công ty, do công ty trả lương” (Bùi Văn Nhơn, 2006). - Trong công ty nguồn nhân lực là toàn bộ cán bộ công nhân viên bao gồm số lượng, chất lượng, tiềm năng hiện có và tiềm năng của đội ngũ người lao động, phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của chiến lược phát triển công ty trong thời kỳ nhất định.
Tiềm năng đó bao gồm tổng hòa tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động có thể đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ của công ty. Như vậy, xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau có thể có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, những khái niệm trên đều thống nhất nội dung cơ bản: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và là nguồn lực vô tận của sự 8 phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Vì vậy có thể hiểu Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự nghiệp phát triển và tiến bộ xã hội.
Trong mỗi công ty, NNL là nguồn lực quan trọng, không thể thiếu quyết định đến sự thành bại của công ty. Do đó, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dưỡng NNL của mình để đảm bảo NNL đủ mạnh cả về chất và lượng, đảm bảo cho sự phát triển của công ty không chỉ ở hiện tại mà cả ở tương lai. Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng NNL trong công ty được biểu hiện ở hiệu quả của quá trình lao động do lực lượng đó thực hiện. Trong quá trình này, con người thường thực hiện hai chức năng chủ yếu: Một là, thực hiện những hoạt động theo quy trình có sẵn những kỹ năng, kỹ xảo đã tích lũy được hoặc đã học tập được qua đào tạo để sản xuất ra sản phẩm theo khuôn mẫu có sẵn được thiết kế từ trước; Hai là, con người đồng thời thực hiện những chức năng sáng tạo ra các sản phẩm mới, công nghệ mới không dập theo khuôn mẫu định trước.
Ở đây, sự hao phí năng lực thể chất và năng lực tinh thần, tức sự vận dụng trí năng của nguời lao động phải đạt đến trình độ cao, trình độ tìm kiếm, phát hiện thông tin mới và vật chất hóa nó thành sản phẩm và công nghệ mới. Chất lượng NNL là một chỉ tiêu tổng hợp, phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có 5 nhóm cơ bản gắn liền với người lao động : - Sức khỏe (thể lực); - Trình độ văn hóa; - Trình độ chuyên môn, kỹ thuật; - Kỹ năng lao động; - Nhóm các phẩm chất khác, bao gồm: đạo đức, thái độ, ý thức kỷ luật và tác phong làm việc, khả năng sáng tạo, tính thích ứng,. trong đó tác phong lao động có vai trò quan trọng đặc biệt trong một tổ chức. 9 Do vậy chất lượng NNL được định nghĩa như sau: “ Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội (gồm khả năng sáng táo, sự linh hoạt , nhanh nhẹn trong công việc,.) phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức thảo mãn nhu cầu cá nhân (gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động” (Nguyễn Tiệp, 2011).
Ý nghĩa, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người lao động (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý - xã hội) đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu của luận văn này, việc nâng cao chất lượng nhân lực chỉ ra việc thực hiện một số hoạt động nào đó dẫn đến sự thay đổi chất lượng năng lực tăng lên so với chất lượng năng lực hiện tại. Biểu hiện cụ thể là tăng lên về kiến thức, kỹ thuật, thái độ làm việc,. của cá nhân mỗi người.
Từ đó, một mặt tạo ra nhân lực tự tin hơn trong quá trình làm việc, mặt khác đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực có chất lượng cao trong quá trình phát triển công ty, phát triển kinh tế xã hội trên đà hội nhập quốc tế. Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực 1. Tiêu chí về thể lực Trạng thái sức khỏe: “ Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế” (theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO). Đối với chỉ tiêu khám sức khỏe, thường phải khảo nghiệm thực tế như cân đo, thực hiện các kiểm tra về sức khỏe,.
từ đó đánh giá dựa trên những tiêu chuẩn nhất định. Thông tư 14/2013/TT-BYT ngày 6/5/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn khám sức khỏe với nội dung được quy định như sau: - Khám thể lực (Chiều cao, cân nặng, chỉ sổ BMI, mạch, huyết áp, phân loại thể lực). 10 - Khám lâm sàng (Nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, mắt, tai - mũi - họng, răng - hàm - mặt, da liễu). - Khám cận lâm sàn (Xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chuẩn đoán hình ảnh).
Theo đó, căn cứ vào các chỉ tiêu trên để phân loại sức khỏe theo Quyết định số 1613/QĐ-BYT ngày 15/8/1997 của Bộ Y Tế về tiêu chuẩn sức khỏe, phân loại để khám tuyển, khám định kỳ: Loại I Loại II Loại III Loại IV Loại V Rất khỏe Khỏe Trung bình Yếu Rất yếu Sức khỏe là yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng NNL bởi không có sức khỏe con người sẽ không thể lao động, tạo ra của cải vật chất cho xã hội.