phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo Luận văn đƣợc bố cục thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Nhận thức về nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Đầu tƣ phát triển Hạ tầng đô thị. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Đầu tƣ phát triển Hạ tầng đô thị. 5 CHƢƠNG 1 NHẬN THỨC VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.
NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp 1. Khái niệm nguồn nhân lực (Human rersources) Có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực: theo lý thuyết phát triển, nguồn nhân lực theo nghĩa rộng đƣợc hiểu nhƣ nguồn lực con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội nhƣ nguồn lực vật chất (Physical Rersources), theo định nghĩa của Liên hợp quốc: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân lực còn đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp với tƣ cách là tổng hợp cá nhân những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Với cách hiểu này, nguồn nhân lực là một bộ phận của dân cƣ, bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao động nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( Nam từ đủ 16 đến hết 60 tuổi, Nữ từ đủ 16 đến hết 55 tuổi ) có khả năng lao động. Đây là lực lƣợng lao động tiềm năng, nguồn lực quan trọng nhất 6 có thể huy động vào các hoạt động của nền kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực đƣợc chia thành hai bộ phận : Thứ nhất, là bộ phận nguồn nhân lực có tham gia vào hoạt động kinh tế (còn gọi là lực lƣợng lao động): là những ngƣời có công ăn việc làm, đang hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế và văn hoá của xã hội, những ngƣời chƣa có việc làm nhƣng đang tích cực tìm việc làm. Thứ hai, là bộ phận nguồn nhân lực không hoạt động kinh tế (nguồn nhân lực dự trữ), bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động nhƣng vì những lý do khác nhau họ không tham gia vào các hoạt động kinh tế-xã hội nhƣ những ngƣời đang làm nội trợ gia đình, ngƣời đang đi học, ngƣời nghỉ hƣu trƣớc tuổi quy định và những ngƣời có khả năng lao động nhƣng không tích cực tìm việc làm. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp đƣợc hiểu là tất cả ngƣời lao động có trong doanh nghiệp đó.
Nhƣ vậy, nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm toàn bộ những ngƣời có quan hệ lao động với doanh nghiệp, trực tiếp tham giao vào các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng nhƣ các hoạt động quản lý, điều hành của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhân lực đó là nguồn lực có trong từng con ngƣời, nó bao gồm thể lực (sức khoẻ và thân thể) và trí lực (sự suy nghĩ, hiểu biết, quan điểm, lòng tin, nhân cách trong từng con ngƣời…). Trong giai đoạn hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều tập trung vào việc khai thác các tiềm năng về trí lực của con ngƣời vì đây là một kho tàng còn nhiều bí ẩn trong mỗi con ngƣời và cũng có thể nói nó là một lợi thế cạnh tranh quan trọng nếu các doanh nghiệp biết khai thác tối đa nguồn lực này.
Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp tồn tại và đi lên trong cạnh tranh. Trong bất kỳ thời đại nào, xét về nguyên tắc sự tăng trƣởng kinh tế bao giờ cũng đƣợc quy định bởi nhân tố con ngƣời, bởi xét tới cùng trình độ xã hội trƣớc 7 hết phụ thuộc vào năng lực, trí tuệ và trình độ nghề nghiệp của ngƣời lao động. Trong phạm vi một doanh nghiệp, con ngƣời trƣớc hết là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp tồn tại đƣợc thông qua việc điều hành hoạt động của doanh nghiệp và là yếu tố quyết định sự thắng bại của doanh nghiệp đó. Một doanh nghiệp có tồn tại và đứng vững đƣợc trong thị trƣờng cạnh tranh khốc liệt nhƣ hiện nay hay không đều phụ thuộc vào khả năng thực hiện công việc của ngƣời lao động trong doanh nghiệp đó.
Trong xu thế của nền kinh tế hội nhập toàn cầu hiện nay, các sản phẩm hàng hoá tiêu dùng đòi hỏi chất lƣợng phải tốt, giá cả phải thấp nhất, có sức cạnh tranh với hàng ngoại nhập, đồng thời mẫu mã phải đẹp và thay đổi kịp thời với nhu cầu của khách hàng…Phải đáp ứng đầy đủ các nhu cầu trên thì các doanh nghiệp mới có thể phát triển đƣợc và có đƣợc vị trí nhất định trên thị trƣờng, để làm đƣợc điều này, doanh nghiệp phải có một đội ngũ công nhân lành nghề, đủ trình độ để nắm bắt nhanh chóng, kịp thời những công nghệ tiên tiến, hiện đại để áp dụng vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp nhằm tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Doanh nghiệp có đội ngũ cán bộ giỏi, ổn định cũng sẽ giảm thiểu những chi phí phát sinh không đáng có trong sản xuất (số sản phẩm hỏng sẽ giảm, máy móc ít gặp sự cố hơn, giảm chi phí cho việc thuê mƣớn thợ sửa chữa…). Ngay cả khi trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp đƣợc trang bị phần lớn là dây chuyền sản xuất tự động thì doanh nghiệp đó vẫn cần những lao động giỏi để vận hành hệ thống dây chuyền đó. Chính vì vậy nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một yếu tố đầu vào quan trọng nhất, có lợi thế cạnh tranh nhất, trực tiếp tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp và đóng góp một phần cho xã hội 1.
Vai trò của nguồn nhân lực - Nguồn nhân lực là một nguồn lực sống. Giá trị của con ngƣời đối với xã hội chủ yếu đƣợc thể hiện ở năng lực lao động của con ngƣời. Trong khi năng lực lao động không thể tồn tại độc lập ngoài một cơ thể khỏe mạnh. Do đó một con ngƣời có năng lực nghề nghiệp mà doanh 8 nghiệp cần có, một cơ thể khỏe mạnh, có tinh thần chủ động làm việc và ý thức sáng tạo cái mới, có khả năng thích ứng với môi trƣờng tổ chức và văn hóa của doanh nghiệp chính là nguồn lực quan trọng nhất của doanh nghiệp.
Trƣớc hết, sự phát triển của doanh nghiệp là dựa vào sự phát triển năng lực chuyên môn của công nhân viên và ngƣợc lại. Nếu doanh nghiệp coi trọng năng lực chuyên môn của công nhân viên thì trƣớc hết phải coi trọng bản thân họ. Thông qua công tác tuyển dụng, đào tạo, khai thác, doanh nghiệp thực hiện các chính sách điều chỉnh, khích lệ chính là để cổ vũ công nhân viên không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn và tự nguyện sử dụng năng lực chuyên môn đó để làm việc cho doanh nghiệp nếu không doanh nghiệp không thể thích ứng với môi trƣờng cạnh tranh ngày càng gay gắt. Hai là, muốn có năng lực lao động thì con ngƣời phải có một cơ thể khỏe mạnh.
Nhiều doanh nghiệp và nhiều nhà quản lý chỉ quan tâm đến việc khai thác năng lực của lao động mà chƣa quan tâm đúng mức đến sức khỏe của họ, điều đó khiến cho sức khỏe ngƣời lao động giảm sút, năng lực lao động của họ sẽ sớm bị suy thoái. Có một hiện tƣợng phổ biến đáng chú ý là các nhà quản lý thƣờng giao thêm việc cho những nhân viên có năng lực, bởi vì giao việc cho những ngƣời này họ thấy yên tâm hơn. Nhƣng họ không nghĩ rằng nếu để ngƣời lao động làm việc quá sức từ năm này qua năm khác thì sức khỏe của họ sẽ bị suy giảm, khó hồi phục, điều đó cũng giống nhƣ một chiếc móc sắt chỉ chịu đƣợc tải trọng là 01 kg nhƣng lại treo lên đó tải trọng quá lớn thì chắc chắn nó sẽ gãy, việc dùng ngƣời cũng tƣơng tự nhƣ vậy. Ba là, nguồn nhân lực là một nguồn lực có ý thức, có quan niệm giá trị.
Đó là sự khác nhau giữa nguồn nhân lực với các nguồn lực khác. Khi một ngƣời nào đó tự nguyện làm việc, anh ta sẽ làm việc với một tinh thần chủ động. Anh ta sẽ khắc phục khó khăn, hoàn thành công việc một cách sáng tạo và cảm thấy hạnh phúc khi công việc thành công. Ngƣợc lại, nếu một ngƣời nào đó làm việc một cách miễn cƣỡng thì anh ta sẽ tỏ ra uể oải ngay từ đầu, trách móc ngƣời khác thậm chí có ý phá rối kỷ luật, làm hỏng máy móc thiết bị.
Từ đó, có thể thấy rằng làm 9 thế nào để động viên tính tích cực của công nhân viên, tăng cƣờng sự đồng cảm và ý thức trách nhiệm của họ với doanh nghiệp khiến họ có thái độ công tác tốt là một nhiệm vụ có ý nghĩa sâu xa trong công tác quản lý nguồn nhân lực. Bốn là, mỗi ngƣời đều trƣởng thành trong một môi trƣờng nhất định nên trong họ thƣờng mang theo những tập quán sinh họat, tâm lý, phẩm chất riêng hình thành trong quá trình trƣởng thành và trong lao động. Để thực hiện mục đích của tổ chức, doanh nghiệp cần xây dựng một quan niệm giá trị thống nhất, xây dựng những tập quán riêng có của doanh nghiệp. Quan niệm giá trị và những tập quán thống nhất đó gọi là văn hóa doanh nghiêp.
Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có riêng bản sắc văn hóa của mình, nhƣng nếu bản sắc văn hóa đó không đƣợc xây dựng một cách có ý thức và phù hợp với nhu cầu phát triển và cạnh tranh của xã hội thì nó không những không thể thúc đẩy đƣợc sự phát triển của xã hội mà sẽ trở thành ung nhọt gây tổn hại cho doanh nghiệp. Nhiều ngƣời cùng làm việc với nhau tất nhiên sẽ có nhiều quan niệm giá trị khác nhau. Nếu doanh nghiệp không có chính sách để dẫn dắt mọi ngƣời bằng những biện pháp thích hợp thì khó có thể xây dựng đƣợc bản sắc văn hóa của doanh nghiệp có lợi cho sự thành công trong kinh doanh. - Nguồn nhân lực là yếu tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận.