CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm chất lượng “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu”, theo Juran, Giáo sư người Mỹ.
Theo Ishikawa, “Chất lượng là sự tự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”. Dựa trên các lĩnh vực, ngành nghề, mục đích khác nhau, có thể hiểu “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một đối tượng đáp ứng các yêu cầu” (tiêu chuẩn ISO 9000:2015, quy định tại Điều khoản 3. Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực về con người, bao gồm thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý – xã hội. Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Đại học Lao động – Xã hội (2009) thì: “NNL của tổ chức là nguồn lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức.
Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên”. Bùi Văn Nhơn trong sách “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” (2006) thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. Dựa trên các quan điểm trên, “Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tập hợp các nguồn lực của con người trong tổ chức, là thể lực và trí lực của con người có liên quan đến sự phát triển của mỗi cá nhân và tổ chức”. Khái niệm thể lực của nguồn nhân lực Thể lực chỉ sức khỏe, thân thể của con người và điều này phụ thuộc vào vóc dáng cũng như là tình trạng sức khỏe của một con người.
Bên cạnh đó, thể lực cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ tuổi, giới tính, các chỉ số cơ thể người. Để có thể lực tốt cần phải có một chế độ dinh dưỡng, chế độ nghỉ ngơi, chế độ tập luyện,… phù hợp. “Thể lực của nguồn nhân lực chính là biểu hiện của sức khỏe về mặt thể chất lẫn sức khỏe tinh thần của người lao động khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay nói cách khác đây là thang đo thể chất của nguồn nhân lực trên thị trường lao động”. Một lao động có sức khỏe tốt là người đó có sức dẻo dai trong công việc, thời gian làm việc có thể kéo dài hơn bình thường, tay chân linh hoạt, có sức mạnh về cơ bắp, nhanh nhẹn, hoàn thành công việc với ít thời gian hơn, hiệu quả và năng suất làm việc cao hơn so với mức chuẩn thông thường.
Khái niệm trí lực của nguồn nhân lực Theo giáo trình Quản trị nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, “Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm của con người”. Theo từ điển tiếng Việt, “Trí lực là năng lực trí tuệ”. Trí lực là năng lực của trí tuệ và đóng vai trò quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của con người. Trí lực chính là tiền đề, là cơ sở lao động.
Như vậy, “Trí lực của nguồn nhân lực là khả năng trí tuệ, kỹ năng và kiến thức mà con người sở hữu, có thể áp dụng để thực hiện công việc và đóng góp cho sự phát triển trong tổ chức”. Khái niệm phẩm chất tâm lý - xã hội của nguồn nhân lực Theo tác giả Tạ Lan Hương, trong luận văn “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Tháng 8”, “Tâm lực được gọi là phẩm chất tâm lý - xã hội, đó chính là tác phong, tinh thần - ý thức trong lao động”. Theo tác giả Võ Đức Huy, phẩm chất tâm lý - xã hội được thể hiện thông qua tinh thần trách nhiệm, tâm huyết của con người dành cho công việc mà họ được phân công. Phẩm chất tâm lý - xã hội cao hay thấp thể hiện ở mức độ nhận thức, ý thức trách nhiệm về động cơ làm việc, ý chí phấn đấu, thái độ và tác phong làm việc, kỷ luật lao động, tính tự lập trong thực thi nhiệm vụ, tinh thần hợp tác tương trợ, khả năng làm việc tập thể và lòng trung thành với doanh nghiệp.
Như vậy, “Phẩm chất tâm lý - xã hội của nguồn nhân lực là tập hợp các đặc điểm tính cách, tinh thần và hành vi mà một cá nhân mang lại trong môi trường làm việc và trong các mối quan hệ xã hội”. Đây là các phẩm chất không chỉ ảnh hưởng đến hiệu suất công việc mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một môi trường làm việc tích cực và hòa đồng. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Theo giáo trình “Kinh tế nguồn nhân lực” (2008), của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, PGS. Trần Xuân Cầu, PGS.
Mai Quốc Chánh: “Chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn lực”. Theo giáo trình “Quản lý nguồn nhân lực xã hội” (2008), của Học viện Hành chính Quốc Gia, GS. Bùi Văn Nhơn, “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố phản ánh độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động trong quá trình làm việc (đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực)”.
9 Dựa trên các quan điểm trên, có thể hiểu “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực tại một thời điểm xác định, nó thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực. Chất lượng của nguồn nhân lực luôn luôn có sự vận động, thay đổi ở từng thời điểm, giai đoạn và nó phản ánh trình độ phát triển kinh tế và xã hội, mức sống của con người”. Vai trò nguồn nhân lực đối với tổ chức Nhân lực là một trong các nguồn lực quan trọng đối với bất kỳ tổ chức nào. Bởi nhân lực quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức, doanh nghiệp.
“Nguồn nhân lực (yếu tố con người) đối với sự phát triển thể hiện ở hai mặt: Thứ nhất, với tư cách là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ và kho tàng văn hóa; Thứ hai, với tư cách người lao động, tạo ra tất cả sản phẩm đó với sức lực và óc sáng tạo vô hạn. Để tồn tại và phát triển, con người cần đáp ứng các nhu cầu về mặt chất, tiêu dùng vật chất và văn hóa do con người tạo ra. Mà nhu cầu của con người về vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng”. Sự tiêu dùng và những nhu cầu của con người là động lực để phát triển, bởi mục đích của sản xuất kinh doanh là để tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trường, khối lượng và cơ cấu tiêu dùng là yếu tố quyết định về quy mô, cơ cấu sản xuất. Nguồn tiêu thụ càng cao thì tổ chức, doanh nghiệp càng phát triển, bởi nó tạo ra lợi nhuận. Với tư cách là người lao động sản xuất, con người quyết định đến chất lượng, số lượng, mẫu mã, sự sáng tạo và làm phong phú,… Từ đó tạo ra giá trị và giá trị sử dụng của các sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra. Con người với khả năng về thể lực và trí tuệ của mình là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất của sự phát triển sản xuất xã hội.
Cùng với sự phát triển của văn minh sản xuất sẽ dẫn đến sự thay đổi vị trí lao động (lao động chân tay và lao động trí óc). Nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong sự nghiệp CNH - HĐH, khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và bước sang giai đoạn mới, công nghệ thông tin bùng nổ việc áp dụng các kỹ thuật tin học với những sản phẩm phần mềm tự động hóa đã làm biến đổi quá trình tăng năng suất và quá trình sản xuất của lao động, từ đó nảy sinh ra mâu thuẫn buộc phải hình thành một cơ chế mới về lao động trong sự thay đổi thang giá trị con người đồng thời phải xem xét lại lại toàn bộ hệ thống đào tạo công nhân, kỹ thuật khi mối quan hệ chặt chẽ giữa các khía cạnh công nghệ, xã hội và kinh tế được hình thành. Từ đó coi con người là yếu tố trung tâm với các tri thức, trình độ chuyên môn và động cơ lao động. 10 Nhân tố con người sáng tạo ra các máy móc, công nghệ với sự sáng tạo và trí tuệ của mình, vì vậy trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa yếu tố con người là yếu tố trung tâm, quyết định đến năng suất, hiệu quả làm việc.
Bởi nếu con người khi tham gia sản xuất, lao động không có kiến thức, kỹ thuật sử dụng sẽ không thể điều hành và sử dụng máy móc một cách hiệu quả nhất. Nguồn nhân lực còn là yếu tố quyết định đem đến lợi nhuận cho công ty, một công ty muốn có lợi nhuận thì chắc chắn phải có nhân sự thì mới có thể tạo ra được giá trị, có sản phẩm. Nếu một doanh nghiệp có một đội ngũ nhân lực làm việc hiệu quả thì doanh nghiệp đó sẽ đạt được những mục tiêu đã đặt ra và có thể phát triển lâu dài, bền vững. Vì vậy, dù xét dưới góc độ nào thì con người là yếu tố quan trọng, quyết định nhất để tổ chức, doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.
Đặc điểm cơ bản của chất lượng nguồn nhân lực Đặc điểm cơ bản của chất lượng nguồn nhân lực thường được chỉ qua hai yếu tố là thể lực và trí lực, bên cạnh đó có thêm một yếu tố cũng được đưa ra là phẩm chất tâm lý - xã hội. Đặc điểm thể lực nguồn nhân lực Thể lực là một trong những yếu tố xác định chất lượng nguồn nhân lực của một quốc gia. Đặc biệt với những nước đang phát triển như Việt Nam thì yếu tố này chiếm tỷ lệ cao trong toàn cảnh chất lượng lao động nước ta.