MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, để đất nước ngày càng phát triển và phát huy tối đa mọi nguồn lực của xã hội, đặc biệt là nguồn lực con người, là nhân tố trọng tâm của mọi hoạt động phát triển nền sản xuất của xã hội. Chính vì vây, Đảng và Nhà nước ta luôn xem việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (NNL) là quốc sách hàng đầu. Ngoài nâng cao chất lượng NNL của xã hội nói chung, trong đó có việc nâng cao chất lượng NNL cán bộ, công chức (CBCC) trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, đây được xem là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của nước ta ngày càng phát triển ổn định và bền vững.
Đồng Tháp là tỉnh nông nghiệp có diện tích đất sản xuất 276.206 ha với hơn 73,59% lao động nông nghiệp và 82,73% dân cư sinh sống ở nông thôn (Uỷ ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2009), tốc độ tăng trưởng kinh tế GRDP tăng 7%, trong đó, khu vực nông - lâm - thủy sản tăng 3,5%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 8,91%; khu vựng thương mại – dịch vụ tăng 8,85%. GRDP/ người đạt 54,4 triệu đồng (tương đương 2,292 USD) theo giá thực tế (Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2019). Tuy nhiên, thực trạng NNL của tỉnh Đồng Tháp còn nhiều hạn chế, bất cập. Đó là: năng lực và trình độ đội ngũ công chức chưa ngang tầm với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; một bộ phận không nhỏ công chức còn thiếu kiến thức quản lý nhà nước, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, công nghệ thông tin (CNTT) còn yếu; công chức không thể làm việc trực tiếp với người nước ngoài do yếu ngoại ngữ.
Sở Nội vụ là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Tháp, có chức năng tham mưu, quản lý nhà nước về công tác nội vụ, gồm: tổ chức bộ máy; biên chế các cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; tổ chức hội, tổ chức phi Chính 1 Luan van phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; thi đua - khen thưởng,. Cụ thể như sau: Hiện nay, Sở Nội vụ có 65 CBCC (Sở Nội vụ tỉnh Đồng Tháp, 2020). Đặt chức năng, nhiệm vụ của Sở Nội vụ trong bối cảnh phát triển KT-XH của tỉnh Đồng Tháp và những yêu cầu về nâng cao chất NNL của Tỉnh cho thấy yêu cầu khách quan phải nâng cao chất lượng NNL của Sở Nội vụ là tất yếu. Đây là nội dung chiến lược, có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại đối với công tác xây dựng và phát triển đội ngũ CBCC của tỉnh Đồng Tháp.
Bên cạnh đó, sự cần thiết nâng cao chất lượng NNL của Sở Nội vụ tỉnh Đồng Tháp còn thể hiện ở một số lý do sau. NNL của Sở Nội vụ tỉnh Đồng Tháp ngoài những mặt tích cực còn có những hạn chế, bất cập, trong điều kiện bình thường nếu không được khắc phục kịp thời sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công tác quản lý CBCC và chất lượng đội ngũ CBCC toàn Tỉnh dẫn đến nguy cơ tụt hậu so với các tỉnh trong vùng và cả nước. Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Sở Nội vụ tỉnh Đồng Tháp” làm luận văn tốt nghiệp. Nhằm hệ thống về mặt lý luận và thực tiễn để đưa ra những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng NNL của Sở Nội vụ tỉnh Đồng Tháp trong thời kỳ đẩy mạng CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
Các công trình nghiên cứu có liên quan (trong và ngoài nước) 2. Những công trình nước ngoài Tình hình nghiên cứu nước ngoài, những năm vừa qua đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu liên quan tới NNL theo các cách khác nhau, dưới các góc độ khác nhau, ở các phạm vi nghiên cứu khác nhau: Theo Wiliam R.Racey (1991), đã nhìn nhận NNL của tổ chức là tất cả những người làm việc trong tổ chức đó, là tài sản của tổ chức đó nhưng không giống tài lực hay vật lực, mà tài sản này biết tạo ra các mối quan hệ, giao dịch và làm giàu cho tổ chức. Chính vì có quan niệm như vậy nên việc đánh giá tài sản đó có chất lượng hay không thì không phải có kiến thức để làm việc, có ý thức làm việc để tạo ra của cải làm giàu cho tổ chức. Theo Julia Storberg và Walker Claire Gubbins (2007), nghiên cứu về mối quan hệ xã hội của con người với phát triên NNL đã đưa ra nội dung của phát triển 2 Luan van NNL ở các phạm vi khác nhau có tính đến những liên kết, quan hệ đan xen giữa các đơn vị trong tổ chức và giữa tổ chức với xã hội bên ngoài.
Theo Ian Saunders (1996), trong đề tài nghiên cứu đã chỉ ra các đặc điểm đánh giá NNL nhưng chủ yếu là NNL quản lý. Ông cho rằng nếu người quản lý làm tốt chức năng và vai trò lãnh đạo của mình thì các nhân viên khác sẽ phục tùng và làm theo. Nếu người quản lý không thực hiện được đầy đủ, nghiêm túc vai trò của mình thì việc các nhân viên thực hiện nhiệm vụ không chuẩn, không sáng tạo thì không thể đổ lỗi cho nhân viên. Theo Grill Palmer cùng tác giả Howard F.
Gospel (1993) đã tìm hiểu mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quan hệ lao động ở Anh và đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực thông qua mối quan hệ đó. Tuy nhiên mỗi quốc gia lại có môi trường, điều kiện sống và làm việc, tốc độ phát triển kinh tế không giống nhau nên các đánh giá mang tính chất tham khảo, áp dụng trong từng thời kỳ hoặc thời điểm nhất định. Những công trình trong nước Theo Vũ Đình Dũng (2019) với đề tài: “Nâng cao chất lượng NNL CBCC trong các cơ quan hành chính cấp tỉnh tại Bắc Kạn” đã hệ thống được những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng NNL CBCC hành chính nhà nước nói chung và nâng cao chất lượng NNL công chức hành chính nhà nước của tỉnh Bắc Kạn nói riêng. Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng một cách khách quan, chính xác về một số ưu điểm và những tồn tại, hạn chế về chất lượng NNL CBCC hành chính nhà nước tỉnh Bắc Kạn trong thời kỳ mới.
Luận án cũng đưa ra những quan điểm, mục tiêu, phương hướng và một số giải pháp quan trọng, phù hợp và kiến nghị, đề xuất Chính phủ và tỉnh Bắc Kạn nhằm nâng cao chất lượng NNL CBCC hành chính tỉnh Bắc Kạn trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, kết quả của luận án chỉ có thể áp dụng vào những địa phương có điều kiện phát triển kinh tế đặc thù của tỉnh Bắc Kạn. Theo Nguyễn Thị Thu Hà, với đề tài: “Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu mới” đã khái quát hóa về NNL CBCC, viên chức và thực trạng NNL CBCC của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay, để từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm quy hoạch CBCC trẻ dài hạn, 3 Luan van cũng như xây dựng các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trẻ và các nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng gắn với điều kiện thực tiễn mà CBCC đang thực hiện nhiệm vụ hay luân chuyên cán bộ và thực hiện chế độ chính sách đối với CBCC cho thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới. Tuy vậy, hạn chế của bài viết là chưa đưa ra được tiêu chí đánh giá chất lượng CBCC, viên chức của thành phố Hồ Chí Minh (trích từ Vũ Đình Dũng, 2019).
Theo Đoàn Anh Tuấn (2015) với đề tài: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam” luận án hệ thống hóa cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phân tích thực trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tập đoàn dầu khí. Tập trung phân tích kỹ tính bức thiết của vấn đề nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập và sự hoạt động của các đối thủ cạnh tranh từ sau khi các hiệp ước kinh tế mà Việt Nam ký kết có hiệu lực từ năm 2016. Từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn đặc thù ngành. Phùng Rân (2008) với bài: “Chất lượng nguồn nhân lực, bài toán tổng hợp cần có lời giải đồng bộ”, đã trăn trở với vấn đề chất lượng nguồn nhân lực đã đưa ra nhận định rằng: sự hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia, dân tộc hay sự thành công của một tổ chức đều dựa vào nguồn nhân lực và trình độ có được của nguồn nhân lực đó.
Đây là chìa khóa, là đầu mối để có những quyết sách và chiến lược thành công. Theo Tạ Văn Hiếu (2016) với đề tài: “Nâng cao chất lượng NNL Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội” đã đi sâu đánh giá một cách tổng quan, chi tiết trên mọi phương diện về thực trạng nhân lực tại Sở để thấy rõ những ưu điểm và những hạn chế còn tồn tại của NNL này, đồng thời tìm ra những ưu điểm cũng như những hạn chế trong việc sử dụng đội ngũ CBCC của Sở. Như vậy, có thể nói dưới mỗi góc nhìn khác nhau chúng ta lại có một quan điểm để đưa ra những nhận xét và sử dụng làm thước đo về chất lượng NNL hoặc nâng cao chất lượng NNL theo quan điểm riêng đó. Tất cả các công trình nêu trên đã có nhiều đóng góp có ý nghĩa về mặt khoa học, làm rõ hơn nhiều vấn đề về nguồn nhân lực, sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL,.
Các tác giả đều có cái nhìn chung về NNL luôn giữ vai trò quyết định đối với tất cả các nguồn lực khác, và đặc biệt nêu lên được tầm quan trọng của NNL CBCC trong thời đại ngày 4 Luan van nay đối với sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhận quốc tế của cả nước.