Luận văn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - Sở GD I NHPTNT

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Sở Giao dịch I Ngân hàng Phát triển Việt Nam qua phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Tác giả

NGUYỄN VĂN A

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn cao học

Năm 2012

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cách nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT hiệu quả

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh của các tổ chức tài chính – ngân hàng. Tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam (PTNT), đặc biệt là Sở Giao dịch I, việc nâng cao chất lượng nhân lực không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là chiến lược dài hạn nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững. Dư nợ tín dụng tăng trưởng chưa ổn định, năng lực cán bộ chưa được phát huy tối đa – những thách thức này đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ, từ tuyển dụng, đào tạo đến đãi ngộ và đánh giá hiệu suất. Các nghiên cứu quốc tế như của Kristine Sydhagen và Peter Cunningham (2007) nhấn mạnh rằng phát triển nguồn nhân lực phải gắn liền với mục tiêu chiến lược tổ chức và nhu cầu thực tiễn thị trường. Do đó, nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT cần tiếp cận theo hướng chuyên nghiệp hóa, chuẩn hóa và cá nhân hóa lộ trình phát triển nghề nghiệp cho từng cán bộ.

1.1. Vai trò then chốt của nguồn nhân lực trong ngành ngân hàng hiện đại

Ngành ngân hàng vận hành dựa trên tri thức, kỹ năng phân tích và quản trị rủi ro. Nhân lực chất lượng cao không chỉ am hiểu nghiệp vụ mà còn nắm vững công nghệ, đạo đức nghề nghiệp và khả năng thích ứng. Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, Ngân hàng PTNT cần đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược, năng lực đổi mới và tinh thần trách nhiệm cao để thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm của Chính phủ.

1.2. Thực trạng nguồn nhân lực tại Sở Giao dịch I Ngân hàng PTNT

Mặc dù sở hữu đội ngũ trẻ, năng động và được đào tạo cơ bản, Sở Giao dịch I – Ngân hàng PTNT vẫn đối mặt với nhiều hạn chế: năng lực chuyên môn chưa đồng đều, thiếu kỹ năng mềm, động lực làm việc chưa cao. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tín dụng và chất lượng dịch vụ. Việc nâng cao chất lượng nhân lực vì thế cần bắt đầu từ việc chẩn đoán đúng điểm yếu và xây dựng kế hoạch hành động cụ thể.

II. Thách thức khi nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT

Việc nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT gặp không ít rào cản cả về nội tại và ngoại vi. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu đồng bộ giữa chiến lược nhân sự và chiến lược kinh doanh. Nhiều đơn vị vẫn xem đào tạo là chi phí chứ chưa phải là đầu tư chiến lược. Bên cạnh đó, quy trình tuyển dụng tuy chặt chẽ nhưng chưa đủ linh hoạt để thu hút nhân tài số – nhóm lao động am hiểu công nghệ tài chính (fintech), phân tích dữ liệu và quản trị rủi ro hiện đại. Ngoài ra, cơ chế đãi ngộ chưa thực sự cạnh tranh so với khu vực ngân hàng thương mại cổ phần khiến nguồn nhân lực chất lượng cao dễ bị “chảy máu”. Theo tài liệu gốc, hồ sơ tuyển dụng yêu cầu đầy đủ giấy tờ pháp lý, nhưng quy trình này đôi khi kéo dài, làm chậm tốc độ bổ sung nhân sự đáp ứng nhu cầu thực tế. Những tồn tại này đòi hỏi Ngân hàng PTNT phải tái cấu trúc toàn diện hệ thống quản trị nhân lực.

2.1. Rào cản từ cơ chế tuyển dụng và đãi ngộ

Quy trình tuyển dụng tại Ngân hàng PTNT tuân thủ nghiêm ngặt nhưng thiếu tính linh hoạt trong thu hút nhân sự công nghệ. Chế độ lương, thưởng chưa phản ánh đúng giá trị đóng góp của cán bộ giỏi, dẫn đến tình trạng mất cân đối cơ cấu nhân lực và khó giữ chân người tài.

2.2. Thiếu chương trình đào tạo liên tục và cá nhân hóa

Đào tạo tại chỗ chủ yếu mang tính định hướng ban đầu, thiếu lộ trình phát triển dài hạn. Không có hệ thống đào tạo kỹ năng số, quản trị thay đổi hay kỹ năng lãnh đạo thế hệ mới, khiến nhân sự khó thích nghi với chuyển đổi số trong ngành tài chính.

III. Phương pháp nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT

Để nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT, cần áp dụng mô hình phát triển nguồn nhân lực hiện đại, kết hợp giữa chuẩn hóa và cá nhân hóa. Trước hết, quy trình tuyển dụng cần được số hóa và mở rộng sang các kênh tuyển dụng kỹ thuật số, đặc biệt nhắm đến sinh viên tốt nghiệp ngành tài chính – công nghệ. Tiếp theo, xây dựng hệ thống đào tạo nội bộ liên tục với các khóa học về fintech, quản trị rủi ro ESG, kỹ năng giao tiếp đa văn hóa và lãnh đạo chuyển đổi. Đồng thời, áp dụng hệ thống đánh giá hiệu suất KPI thông minh, gắn kết kết quả cá nhân với mục tiêu đơn vị và ngân hàng. Mô hình “học tập suốt đời” (lifelong learning) nên được khuyến khích thông qua quỹ học tập cá nhân và chính sách hỗ trợ chứng chỉ quốc tế (CFA, FRM, v.v.). Các nghiên cứu của Julia Storberg (2007) cũng cho thấy mối liên kết xã hội và môi trường làm việc tích cực là yếu tố thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực bền vững.

3.1. Tái thiết kế quy trình tuyển dụng theo hướng hiện đại

Ứng dụng AI trong sàng lọc hồ sơ, tổ chức phỏng vấn video, và đánh giá năng lực qua case study thực tế giúp tuyển chọn nhân sự phù hợp hơn. Cần ưu tiên ứng viên có tư duy đổi mới và khả năng học hỏi nhanh – đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ tài chính.

3.2. Xây dựng hệ thống đào tạo liên tục và định hướng nghề nghiệp

Mỗi cán bộ nên có lộ trình phát triển nghề nghiệp cá nhân (IDP). Đào tạo không chỉ dừng ở nghiệp vụ mà mở rộng sang kỹ năng mềm, tư duy phản biện, và quản trị cảm xúc – những yếu tố then chốt trong môi trường ngân hàng hiện đại.

IV. Ứng dụng thực tiễn nâng cao chất lượng nhân lực tại Sở Giao dịch I

Tại Sở Giao dịch I – Ngân hàng PTNT, một số sáng kiến bước đầu đã được triển khai, như việc bàn giao hồ sơ tài liệumô tả công việc rõ ràng cho cán bộ mới, cùng với phân công người hướng dẫn cụ thể. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả bền vững, cần mở rộng mô hình này thành chương trình hội nhập (onboarding) chuyên nghiệp, kéo dài 3–6 tháng với các mốc đánh giá rõ ràng. Bên cạnh đó, việc lưu trữ hồ sơ tuyển dụngquản lý nhân sự qua phần mềm là nền tảng tốt để số hóa quản trị nhân lực. Tuy nhiên, hệ thống này cần tích hợp thêm module đánh giá năng lực, đề xuất đào tạo tự động và phân tích xu hướng nghỉ việc. Dẫn chứng từ tài liệu gốc cho thấy quy trình hiện tại vẫn mang tính thủ tục, thiếu yếu tố dự báo và hỗ trợ ra quyết định chiến lược. Do đó, ứng dụng công nghệ trong quản trị nhân lực là bước đi tất yếu để nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT.

4.1. Cải tiến chương trình hội nhập cho cán bộ mới

Chương trình onboarding nên bao gồm định hướng văn hóa tổ chức, giới thiệu hệ thống công nghệ, và thử thách nghiệp vụ nhỏ trong 30–60 ngày đầu. Điều này giúp rút ngắn thời gian làm quen và tăng tỷ lệ giữ chân nhân sự.

4.2. Số hóa quản lý nhân sự và phân tích dữ liệu nhân lực

Phần mềm quản lý nhân sự cần được nâng cấp để theo dõi chỉ số hài lòng, mức độ gắn kết, và xu hướng phát triển năng lực. Dữ liệu này hỗ trợ lãnh đạo đưa ra quyết định kịp thời trong phát triển nguồn nhân lực.

V. Kết quả kỳ vọng từ việc nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT

Khi nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT được thực hiện bài bản, kết quả kỳ vọng bao gồm: tăng năng suất lao động, cải thiện chất lượng tín dụng, giảm tỷ lệ rủi ro vận hành và nâng cao uy tín thương hiệu. Nhân sự có năng lực sẽ đóng vai trò cầu nối giữa chiến lược ngân hàng và thực thi hiệu quả tại đơn vị. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số ngành tài chính, đội ngũ cán bộ am hiểu công nghệ sẽ là lợi thế cạnh tranh vượt trội. Các nghiên cứu trong nước như của Tạ Ngọc Tấn (2012) cũng khẳng định rằng đầu tư vào giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực là chìa khóa cho phát triển bền vững. Do đó, Ngân hàng PTNT cần coi đây là trụ cột chiến lược, không chỉ để đáp ứng nhiệm vụ hiện tại mà còn để kiến tạo tương lai.

5.1. Tăng hiệu quả hoạt động và giảm rủi ro tín dụng

Cán bộ có trình độ chuyên môn cao sẽ phân tích hồ sơ khách hàng chính xác hơn, từ đó giảm nợ xấutối ưu danh mục tín dụng. Đây là lợi ích trực tiếp từ việc nâng cao chất lượng nhân lực.

5.2. Xây dựng văn hóa tổ chức học tập và đổi mới

Môi trường khuyến khích học hỏi, chia sẻ kiến thức và thử nghiệm ý tưởng mới sẽ thu hút và giữ chân nhân tài số. Văn hóa này là nền tảng cho phát triển nguồn nhân lực bền vững tại Ngân hàng PTNT.

VI. Tương lai của nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT

Tương lai của nâng cao chất lượng nhân lực tại Ngân hàng PTNT nằm ở sự hội tụ giữa con người và công nghệ. Ngân hàng cần xây dựng hệ sinh thái nhân lực thông minh, trong đó AI hỗ trợ đào tạo cá nhân hóa, blockchain xác thực bằng cấp, và metaverse tạo môi trường mô phỏng nghiệp vụ. Đồng thời, cần hợp tác chặt chẽ với các trường đại học để thiết kế chương trình đào tạo “đặt hàng”, đảm bảo sinh viên ra trường đáp ứng ngay nhu cầu thực tế. Các câu hỏi thường gặp như “Làm sao giữ chân nhân tài trong ngân hàng nhà nước?” hay “Chiến lược đào tạo nhân lực số cho ngân hàng phát triển?” sẽ được giải đáp thông qua mô hình nhân sự linh hoạt – hybrid workforce, kết hợp lao động chính quy, chuyên gia hợp đồng và cộng tác viên kỹ thuật số. Với tầm nhìn dài hạn, Ngân hàng PTNT hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu về phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công.

6.1. Hợp tác đào tạo với các trường đại học và viện nghiên cứu

Chương trình liên kết “đặt hàng” giúp đồng bộ hóa chuẩn đầu ra với nhu cầu thực tế của Ngân hàng PTNT, giảm thời gian đào tạo lại và tăng tính sẵn sàng làm việc của sinh viên mới tốt nghiệp.

6.2. Xây dựng hệ sinh thái nhân lực thông minh

Ứng dụng AI, big data và nền tảng học tập trực tuyến để tạo ra trải nghiệm phát triển nghề nghiệp liên tục, linh hoạt và cá nhân hóa – xu hướng tất yếu trong quản trị nhân lực hiện đại.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/03/2026
Lv ths qtnl nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại sở giao dịch i ngân hàng phát triển việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực tồn tại trong mỗi con người, nó bao gồm cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng. Nguồn lực của mỗi người được thể hiện và bộc lộ ra ngoài bởi khả năng lao động, thực hiện công việc.

Kết quả lao động dựa trên trình độ, sức khỏe, tâm lý, ý thức, sự cố gắng, khả năng sáng tạo, lòng say mê,. Chính vì vậy, nhân lực, con người là nhân tố quan trọng nhất trong sản xuất, khi không có con người thì mọi nhân tố khác sẽ không được vận hành, sẽ không có sự đổi mới, phát triển. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.”[8, 5] Theo Phạm Minh Hạc (2001), “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”.[6, 269] Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. [1, 9] Nguồn nhân lực được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng: - Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.

Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số càng cao thì dẫn đền quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng lớn và ngược lại. Tuy nhiên có mối quan hệ dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện sau một thời gian nhất định. - Về chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt như: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.

8 Nguồn nhân lực trong tổ chức: Nguồn nhân lực trong tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối hợp kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi người, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt được những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt được những mục tiêu riêng của mỗi thành viên. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả tiếp cận và khái quát khái niệm nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực. Nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm tất cả mọi cá nhân tham gia bất cứ hoạt động nào với bất cứ vai trò nào trong tổ chức.

Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là một sự tổng hợp, kết tinh của rất nhiều nhân tố và giá trị cùng tham gia tạo nên. Bao gồm các nhân tố cơ bản: sức khỏe (thể lực), trình độ học vấn, đạo đức nghề nghiệp và cơ cấu lao động. Về chất lượng nguồn nhân lực, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên đến nay vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về chất lượng nguồn nhân lực. Có quan điểm cho rằng, chất lượng nguồn nhân lực là giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, chất lượng là thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nhân lực. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Chất lượng nguồn nhân lực là sự lành nghề của lao động nhằm hướng tới có việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân người lao động”.[8, 13] Theo Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu (2008), chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu như sau: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của 9 nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các nhân tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [1, 27] Theo quan điểm của Phan Thanh Tâm thì chất lượng nguồn nhân lực được định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hòa 3 nhân tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của người lao động”. [11, 37] Xét về phía doanh nghiệp: Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là toàn bộ năng lực, thể lực và phẩm chất đạo đức của nguồn nhân lực, có ảnh hưởng quyết định đến việc hoàn thành những mục tiêu hiện tại và tương lai của mỗi doanh nghiệp. Tóm lại, theo hướng tiếp cận của luận văn, chất lượng nguồn nhân lực dưới quan điểm của tác giả như sau: là trình độ khả năng của năng lực thể chất và năng lực tinh thần cấu thành nên lực lượng lao động của xã hội, được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc.

Nói một cách khác, tất cả các nhân tố này cấu thành nên chất lượng nguồn nhân lực. Khi nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí tuệ, bao gồm trình độ tay nghề, phẩm chất đạo đức và tinh thần; ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực. Trong đó thể lực là nền tảng, là cơ sở để phát triển trí tuệ, là phương tiện để truyền tải tri thức, trí tuệ của con người vào hoạt động thực tiễn; ý thức, tinh thần và tác phong làm việc là nhân tố chi phối hoạt động chuyển hóa của thể lực, trí tuệ thành thực tiễn; trí tuệ là nhân tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Nâng cao chất lượng nhân lực là tăng cường sức mạnh về chất lượng về mọi mặt của người lao động nhằm hướng đến mục tiêu ngày càng phát triển của xã hội.

Chất lượng nhân lực của một quốc gia được quyết định bởi chất lượng nhân lực của từng doanh nghiệp, từng cá nhân trong xã hội. Thông qua chất lượng nhân lực sẽ thấy được quốc gia phát triển đến đâu, hay mức độ văn minh của xã hội. Để nâng cao chất lượng nhân lực của quốc gia, thì cần nâng cao chất lượng của tổ chức, doanh nghiệp. Để nâng cao chất lượng của doanh nghiệp, cần có những biện 10 pháp tăng cường về thể lực, tâm lực và trí lực cho người lao động các biện pháp đó bao gồm:tuyển dụng, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ nhân lực… Như vậy, ta có thể khẳng định rằng: “Nâng cao chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp là việc sử dụng các biện pháp nhằm tăng cường: thể lực, tâm lực và trí lực nhằm góp phần thực hiện hướng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp”.

Các nhân tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Tiêu chí đánh giá trí lực Trí lực có thể hiểu rằng đó là sự phối hợp nhuần nhuyễn của sự quan sát, trí nhớ, suy nghĩ, sức tưởng tượng, thực hành và sáng tạo để tạo nên giá trị công việc. Như vậy, để nâng cao chất lượng nhân lực thì nâng cao trí lực cho người lao động là điều quan trọng. Trí lực mạnh, có nghĩa là sự vận dụng tri thức để thực hiện công việc tốt.

Trí lực được đánh giá dựa trên các tiêu chí chủ yếu sau: (i) Trình độ phổ thông Trình độ văn hóa là những kiến thức cơ bản, là nền tảng để có thể thực hiện được những việc đơn giản duy trì sự sống. Trình độ văn hóa được cung cấp qua hệ thống giáo dục chính quy, không chính quy, qua quá trình tự học tập suốt đời của mỗi cá nhân. Thang đo trình độ văn hóa, được thể hiện qua các cấp học của hệ phổ thông. Có các cấp đó là: tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông.

Hoàn thành được các cấp này, cá nhân người lao động đã hoàn thành hệ phổ thông các cấp, được trang bị những kiến thức cơ bản và đơn giản nhất. Là nền tảng để người lao động tiếp tục tiếp thu các kiến thức chuyên môn kĩ thuật. (ii) Trình độ chuyên môn kĩ thuật Trình độ chuyên môn kĩ thuật là kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện yêu cầu công việc của vị trí đang đảm nhận. Trình độ chuyên môn kĩ thuật là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng nhân lực về mặt trí lực.

Vì trình độ chuyên môn kĩ thuật tạo ra điều kiện và khả năng để tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng khoa học kỹ thuật và sản xuất kinh doanh, sáng tạo ra những giá trị thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội. Để đánh giá tiêu chí về trình độ chuyên môn kĩ thuật, có thể 11 đánh giá qua các trình độ như sau: trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học. Trình độ chuyên môn kĩ thuật từ thấp đến cao, phản ánh được trí lực của người lao động. Chất lượng nhân lực, ngoài tâm lực và trí lực, cũng cần nói tới kỹ năng, kinh nghiệm.

Kinh nghiệm được tích lũy dựa trên sự nếm trải của mỗi cá nhân, được đúc kết dựa trên sự tổng hợp tri thức và kỹ năng để tìm tòi, cách tân cách hoạt động, giải pháp trong công việc. (iii) Kỹ năng, kinh nghiệm Kỹ năng, kinh nghiệm của người lao động không chỉ dừng lại ở kỹ năng, kinh nghiệm về mặt chuyên môn kĩ thuật. Mà kỹ năng ở đây, còn là kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng lập kế hoạch đối với các nhà quản trị… Còn kinh nghiệm, có thể hiểu kinh nghiệm là cách xử lý tình huống, đưa ra các giải pháp trên cơ sở học hỏi, dựa trên kinh nghiệm sống của cá nhân người lao động. Giúp bổ trợ cho công việc chuyên môn kĩ thuật mà người lao động đang đảm nhận tại vị trí công việc ở doanh nghiệp mình.

Thang đo để biết được người lao động có kỹ năng, kinh nghiệm. Đó là, dựa trên cách người lao động xử lý các tình huống hiệu quả, thời gian xử lý nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả trong quản lý.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ