Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng NNL trong các KCN tỉnh Bắc Ninh; Chương 2: Phương pháp nghiên cứu trong quá trình triển khai thực hiện đề tài; Chương 3: Kết quả Khảo sát và đánh giá thực trạng chất lượng NNL tại các KCN tỉnh Bắc Ninh; Chương 4: Một số giải pháp nâng cao chất lượng NNL cho các KCN tỉnh Bắc Ninh. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC KCN TỈNH BẮC NINH 1. Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm nhân lực: Các nhà nghiên cứu đã đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau về nhân lực.Mác cho rằng, sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con ngƣời, tức là thân thể ngƣời sống. Mỗi khi con ngƣời sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực.
Sức lao động là tổng hòa toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể sống của con ngƣời, mà con ngƣời có thể vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nhƣ vậy, sức lao động là năng lực tồn tại trong cơ thể con ngƣời do con ngƣời chi phối. Sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Theo Đại từ điển Kinh tế thị trƣờng thì nhân lực đƣợc hiểu là lực lƣợng và năng lực những ngƣời làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động.
Theo TS Đỗ Minh Cƣơng và PGS.TS Nguyễn Thị Doan thì: “Nhân lực là những cá nhân có nhsân cách, có khả năng lao động sản xuất” [10, tr. Nhân lực còn đƣợc hiểu là lực lƣợng lao động với kỹ năng tƣơng ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trƣờng và xã hội. Thống nhất từ các các quan niệm trên, có thể tổng quan rằng, nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hay xã hội. Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 5 trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội.
* Khái niệm Nguồn nhân lực: Thuật ngữ “NNL” xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh tế lao động. Nếu nhƣ trƣớc đây, phƣơng thức quản trị nhân viên với các đặc trƣng coi nhân viên là lực lƣợng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 tới nay với phƣơng thức mới, quản lý NNL với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để ngƣời lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật ngữ “NNL” là một trong những biểu hiện cho sự thắng thế của phƣơng thức quản lý mới trong việc sử dụng nguồn lực con ngƣời. Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “NNL” chẳng hạn nhƣ: Theo khái niệm kinh tế phổ thông thì NNL là toàn bộ tiềm năng của con ngƣời về mặt hoạt động kinh tế.
NNL là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức. Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với NNL đã đƣa ra định nghĩa NNL là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dƣới dạng tiềm năng của con ngƣời. Quan niệm về NNL theo hƣớng tiếp cận này có phần thiên về chất lƣợng của NNL.
Trong quan niệm này, điểm đƣợc đánh giá cao là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 6 coi các tiềm năng của con ngƣời cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng NNL là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức. Theo định nghĩa về NNL của Liên Hiệp Quốc: NNL là trình độ lành nghề, là kiến thức của toàn bộ cuộc sống con ngƣời thực hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng. Theo một cách tiếp cận rộng hơn thì NNL có thể hiểu là nguồn lực con ngƣời, là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nó là một bộ phận của dân số có vai trò tạo ra giá trị vật chất, văn hoá, dịch vụ cho xã hội. Nhƣ vậy nguồn lao động bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động không kể đến trạng thái là họ đang có hoặc không tham gia hoạt động kinh tế xã hội.
Tuy có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận nghiên cứu. Nhƣng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên về NNL là: - Số lƣợng nhân lực. Nói đến NNL của bất kỳ một tổ chức, một địa phƣơng hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu ngƣời và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tƣơng lai. Ðấy là những câu hỏi cho việc xác định số lƣợng NNL - Chất lƣợng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ.v… của ngƣời lao động.
Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng NNL. - Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về NNL. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phƣơng diện khác nhau nhƣ: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi.v Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 7 Tóm lại, NNL là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu phát triển ngƣời lao động nói chung cả ở hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. * Sự phân biệt giữa nhân lực và nguồn nhân lực Từ các khái niệm trên có thể thấy sự phân biệt giữa nhân lực và nguồn nhân lực nhƣ sau: Nhân lực là sức lực con ngƣời, nằm trong mỗi con ngƣời và làm cho con ngƣời hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con ngƣời và đến một mức độ nào đó, con ngƣời đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con ngƣời có sức lao động. Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời. Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực.
Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con ngƣời. Với tƣ cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL 1.
Giới tính, độ tuổi, thể chất Thể chất của nhân lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phƣơng tiện tất yếu để truyền tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức thành sức mạnh vật chất. Sẽ không có một trí tuệ minh mẫn, dẻo dai trong một cơ thể ốm yếu, bệnh hoạn mà chỉ có trong một cơ thể cƣờng tráng, tràn trề sinh lực. Thể chất của nhân lực đƣợc biểu hiện ở sức khỏe, chiều cao, trọng lƣợng, tuổi thọ… Thể chất phụ thuộc vào nhóm nhân tố di truyền, chất lƣợng cuộc sống, chăm sóc y tế, mức sống vật chất và cơ cấu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ 8 dinh dƣỡng, các điều kiện về môi trƣờng sống, nhà ở, thể dục thể thao. Sức khỏe đƣợc cải thiện sẽ có liên quan đến phát triển xã hội nói chung, tăng trƣởng kinh tế nói riêng.
Ở Việt Nam, những năm gần đây thể chất của nhân lực đã đƣợc nâng lên rõ rệt thể hiện ở sự cải thiện về chiều cao, trọng lƣợng trung bình và tuổi thọ bình quân ngày càng tăng. Các chƣơng trình phòng, chống suy dinh dƣỡng cho trẻ em cũng đã đƣợc thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên, so với các nƣớc trong khu vực thì Việt Nam vẫn còn thua kém về cân nặng và chiều cao. Nguyên nhân chủ yếu bắt nguồn từ trình độ phát triển kinh tế còn thấp nên điều kiện để bổ sung cho việc cung cấp dinh dƣỡng và điều kiện chăm sóc sức khỏe còn hạn chế.
Ngoài ra, thể lực còn chịu ảnh hƣởng bởi yếu tố tinh thần, sự rèn luyện của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Vì vậy, CLNNL đƣợc duy trì và phát triển bằng vật chất, tinh thần, tƣ tƣởng, thái độ của chính nhân lực, trong đó nhu cầu vật chất là điều kiện cần và đủ để bù đắp sự hao phí năng lƣợng của cơ thể con ngƣời. Nâng cao sức khỏe cho con ngƣời để tăng chất lƣợng nhân lực là yêu cầu cấp thiết và quan trọng của mỗi DN, mỗi tổ chức hiện nay. Về giới tính: Nhà nƣớc ta luôn có chính sách quan tâm đến lao động nữ.