CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào quy định của Nhà nước về độ tuổi lao động và khả năng tham gia lao động của từng cá nhân cụ thể.
Có một số cách hiểu khác về nhân lực như: Tác giả Phạm Đức Thành cho rằng “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực và trí lực” thể hiện việc tận dụng sức lực và tri thức của con người trong lao động sản xuất [9, tr. Nhân lực (theo Wikipedia) bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp [24, tr.1] Như vậy, nhân lực được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng nhất định để làm công việc nào đó mà xã hội hay thị trường có nhu cầu. Cấu thành nhân lực là số lượng nhân lực bao gồm tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động của họ. Chất lượng nhân lực: thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người lao động.
Nguồn nhân lực Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, NNL là nhân tố trung tâm, có vai trò quyết định với sự tăng trưởng và phát triển của nền 10 kinh tế. Một nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có thể khai thác hết tiềm năng để đạt được sự tăng trưởng như mong muốn. Bởi nguồn lực con người với hoạt động lao động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên làm cho các nguồn lực khác trở nên có ích. Do đó, việc nhận rõ các nội dung, tính chất, đặc điểm, sự phát triển, sử dụng có hiệu quả NNL là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
Hiện nay hình thành nên nhiều khái niệm NNL với nhiều cách hiểu hay quan điểm khác nhau như: Theo Liên Hợp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước” [25, tr.1] Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân” [25, tr. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. NNL được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào, đang có việc làm hay tạm thời chưa có việc làm. Theo nghĩa hẹp, NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao 11 động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động [25, tr.1] Theo tác giả Nguyễn Tiệp, nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội [11, tr.8] Như vậy, nguồn nhân lực được xem xét và đánh giá theo hai góc độ là số lượng và chất lượng. Về số lượng: Số lượng NNL được tính bằng tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số người lao động dự phòng. Nhưng đối với doanh nghiệp thì NNL không bao gồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính những người trong độ tuổi lao động đang làm việc tại doanh nghiệp.
Về chất lượng: NNL được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là nguồn lực con người, là vốn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm những người đang làm việc thực tế trong doanh nghiệp và nguồn nhân lực tiềm năng mà doanh nghiệp đang hướng tới trong kế hoạch hóa nguồn nhân lực.7] Theo tác giả Bùi Văn Nhơn thì: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương” [8, tr.72] Đối với bất kì doanh nghiệp nào, NNL là nòng cốt cơ bản không thể thiếu được trong mọi hoạt động. NNL luôn bao gồm trí tuệ nhân sự được xem 12 là tài sản vô hình quý báu của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp nào không biết trân trọng, bảo vệ và tiết kiệm nguồn lực nhân sự ( còn được gọi là nguồn vốn nhân sự) và tài sản vô hình của trí tuệ nhân sự trong doanh nghiệp mình, doanh nghiệp đó sẽ khó có thể phát triển bền vững được trong tương lai.
NNL trong doanh nghiệp được hiểu là nguồn lực con người, đó là những người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, làm việc bằng trí lực, thể lực và tâm lực trong doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Từ thực tiễn kinh doanh cho thấy rằng : Để đảm bảo năng suất cao, giá thành hạ và tăng lợi nhuận các nhà sản xuất không còn con đường nào khác là dành mọi ưu tiên hàng đầu cho chất lượng. Chất lượng là chìa khóa đem lại phồn vinh, sự phát triển bền vững cho các doanh nghiệp và các quốc gia thông qua việc chiếm lĩnh thị trường phát triển kinh tế. Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu , chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu như sau: “ Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” [1, tr.18] Theo tác giả Vũ Thị Mai chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là: “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của NLĐ với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” [27, tr.1] Theo tác giả Nguyễn Tiệp: Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau đây: • Sức khỏe; • Trình độ văn hóa; • Trình độ chuyên môn – kỹ thuật (cấp trình độ được đào tạo); 13 • Năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp (khả năng thực tế về chuyên môn – kỹ thuật); • Tính năng động xã hội (khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt,nhanh nhạy với công việc và xã hội; mức độ sẵn sàng tham gia lao động…); • Phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đơi với công việc và môi trường làm việc… • Hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực; • Thu nhập, mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân (nhu cầu vật chất và tinh thần) của NLĐ.9] Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng khái niệm về chất lượng NNL trong doanh nghiệp như sau: chất lượng nguồn nhân lực là thuật ngữ thể hiện một tập hợp các đánh giá về mức độ đáp ứng, khả năng làm việc của người lao động qua các tiêu chí: thể lực, trí lực, tâm lực, cơ cấu lao động của nguồn nhân lực so với yêu cầu công việc cụ thể đặc trưng của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp có cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, người lao động có trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, kỹ năng xử lý được đào tạo, đủ sức khỏe thể chất và có tinh thần làm việc là một doanh nghiệp có nguồn nhân lực có chất lượng 1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vũng cần dựa vào ba yếu tố là áp dụng công nghệ mới, phát triển cơ cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng NNL. Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta ngày càng nhận thức rõ vai trò quyết định của NNL, nhất là NNL chất lượng cao vốn là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát triển bền vững và hội nhập thành công vào nền kinh tế quốc tế. 14 Nâng cao chất lượng NNL là gia tăng giá trị con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho NLĐ có những năng lực và phẩm chất mới cao hơn, hoàn thành tốt hơn mục tiêu của tổ chức và của chính bản thân họ.
Từ những luận điểm trình bày trên, có thể hiểu rằng: Nâng cao chất lượng NNL của doanh nghiệp chính là tổng thể các biện pháp nhằm nâng cao mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực, tâm lực. Biến đổi chất lượng nguồn nhân lực theo hướng phát triển một cách hợp lý về quy mô (số lượng), trình độ (chất lượng) và cơ cấu để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Nâng cao thể lực Sức khỏe con người là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới nói chung cũng như các doanh nghiệp nói riêng.