CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNGHUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm tiền gửi tiết kiệm - Khái niệm: nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ của ngân hàng từ các hoạt động tạo lập, huy động để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn của NHTM được tạo lập bởi các nguồn vốn là:vốn tự có của Ngân hàng, vốn tiền gửi, vốn các nguồn phi tiền gửi khác như vay NHNN, tiền vay của các TCTD, tiền ủy thác,… - Khái niệm vốn tiền gửi của NHTM: gồm các hình thức khác nhau: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm dân cư, tiền gửi của các ngân hàng khác. - Khái niệm TGTK của NHTM: Theo điều 6, quyết định số 1160/2004/GĐ- NHNN thì “TGTK là khoản tiền cá nhân được gửi vào tài khoản TGTK, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận TGTK và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi” + Bản chất: Là một phần thu nhập của các cá nhân mà chưa.
dụng tới, gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và được hưởng lãi suất theo quy định của ngân hàng. TGTK là một dạng tích lũy tiền tệ đặc biệt trong tiêu dùng cá nhân. + Hình thức: tiền gửi có sổ là hình thức phổ biến nhất, ngân hàng cấp cho người gửi tiền một cuốn sổ dùng để theo dõi tiền gửi vào và rút ra, đồng thời cuốn sổ này cũng dùng để chứng nhận số tiền đã gửi. Cuốn sổ này có thể đem cầm cố hoặc thế chấp vay vốn.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm 1.1 Theo kỳ hạn - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là một trong những sản phẩm của ngân hàng giúp KH có tiền nhàn rỗi chưa tiêu dùng muốn gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời nhưng không thiết lập được mục đích sử dụng trong tương lai.
Các giao dịch này xảy ra không thường xuyên, phổ biến nhất là giao dịch tiền gửi và rút tiền trực tiếp. Lãi suất của TGTK không kỳ hạn thấp, vì ngân hàng không chủ động cho công tác cho vay. Mặt khác loại tiền gửi này ngân hàng phải thường xuyên thu và chi trả theo yêu cầu của khách hàng nên tốn kém chi phí. Khi KH gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn tại ngân hàng, thì sẽ được NH cấp một cuốn sổ TGTK.
Số tiền gửi này sẽ ghi nhận tất cả các giao dịch của khách hàng như: tiền gửi, rút tiền, số dư hiện có, tiền lãi được hưởng, hoặc khách hàng được cấp một báo cáo tài khoản sau mỗi giao dịch. Mỗi lần giao dịch, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng phải xuất trình cuốn sổ tiết kiệm vàchỉ các giao dịch ngân quỹ như tiền gửi và rút tiền mới có thể thực hiện được, chứ không thể thực hiện được giao dịch thanh toán. TGTK không kỳ hạn của dân cư là nguốn vốn khó sử dụng do tính chất thiếu ổn định, nhưng lại có ưu điểm là nguồn vốn có chi phi rẻ do lãi suất thấp, ngân hàng khi huy động nguồn vốn này vẫn có khả năng sử dụng cho các hoạt động đầu tư thu lợi tức thời. Vì vậy trong nghiệp vụ huy động.
vốn TGTK của NHTM thì TGTK không kỳ hạn vẫn đóng vai trò nhất định - Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền tích lũy có bản chất như tiền gửi có kỳ hạn thông thường. Khách hàng lựa chọn gửi tiền vì mục tiêu an toàn và sinh lời, chủ yếu là các cá nhân có thu nhập ổn định và thường xuyên. Vì vạy lãi suất đóng vai trò quan tâm hàng đầu của các đối tượng khách hàng này. Khi khách hàng sử dụng dịch vụ gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn, khách hàng cũng được cung cấp một sổ tích kiệm hoặc một tài khoản tích kiệm nếu KH dùng ngân hàng điện tử.
Luan van 13 Lãi suất mà ngân hàng trả cho loại tiền gửi này thường khá cao và lãi suất cố định Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn với thời gian càng lâu thì lãi suất được hưởng sẽ càng lớn bởi ngân hàng hoàn toàn có thể sử dụng nguồn vốn huy động này để đầu tư vào những sản xuất hoặc dịch vụ có tính chất lâu dài hơn và lợi tức ổn định hơn. Các hình thức phổ biến là chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, tiết kiệm nhà ở, tiết kiệm dự thưởng,… Kỳ hạn TGTK của NHTM cũng rất đa dạng, bao gồm nhiều mực kỳ hạn khác nhau như kỳ hạn theo ngày, theo tuần, theo tháng,… và được trả lãi đầu kỳ, cuối kỳ, trả lãi hàng tháng 1.2 Theo loại tiền gửi tiết kiệm - TGTK bằng nội tệ: là loại tiền ngân hàng nhận bằng VND gửi vào và hưởng lãi suất theo tiền VNĐ theo quy định tại thời điểm gửi tiền. Đây là loại tiền gửi chiếm tỷ trọng chủ yếu của vốn TGTK của các NHTM tại Việt Nam - TGTK bằng ngoại tệ: là loại tiền ngân hàng nhận bằng ngoại tệ gửi vào và hưởng lãi suất ngoại tệ gửi. Các loại ngoại tệ chủ yếu được huy động là USD và EUR 1.3 Theo phương thức trả lãi và gốc - Tiết kiệm trả lãi sau: Là hình thức tiết kiệm mà khách hàng được ngân hàng trả lãi khi đáo hạn.
Nếu KH không đến rút gốc và lãi khi đã đến thời gian đáo hạn thì tiền lãi được nhập vào tiền gốc và ngân hàng sẽ mặc định người gửi tiếp tục kỳ hạn tiếp theo. - Tiết kiệm trả lãi trước: Đây là hình thức tiết kiệm mà khách hàng được ngân hàng trả lãi ngay sau khi KH gửi tiền. Khi đến hạn của khoản gửi tiết kiệm KH sẽ nhận phần gốc đúng như số tiền ghi trên thẻ hay sổ tiết kiệm. Nếu KH có nhu cầu muốn rút tiền gốc trước hạn gửi tiền thì khoản này sẽ được xử lý theo quy định của NH.
- Tiết kiệm trả lãi định kỳ: Đây là hình thức gửi tiền tiết kiệm trả mà khách Luan van 14 hàng được ngân hàng lãi theo từng kỳ hạn tùy thuộc vào thỏa thuận đã ký kết giữa KH và NH. Phần lãi của kỳ đã đăng ký có thể được KH rút vào bất kỳ ngày làm việc nào của NH chỉ cần khoản tiết kiệm đến kỳ tính lãi. Nếu trường hợp KH không muốn lĩnh lãi theo kỳ hạn thì NH sẽ chỉ sao kê tính lãi, đến kỳ tính lãi cuối cùng của khoản tiền gửi tiết kiệm thì số lãi tiền gửi chưa lĩnh được nhập vào gốc.4 Theo phương thức nộp gốc - Tiết kiệm gửi một lần: Là loại hình khi KH gửi tiền vào ngân hàng một lần đến khi đáo hạn. Ngân hàng không tốn nhiều chi phí quản lý với hình thức này do số dư tài khoản của khách hàng không biến động.
Chính vì vây, loại tiền gửi này có mức lãi suất cao ” -“ Tiết kiệm gửi nhiều lần: Là hình thức tiết kiệm mà KH định kỳ đã đăng ký với ngân hàng, KH gửi tiền vào ngân hàng, số tiền gửi theo từng lần có thể là cố định hoặc thay đổi theo khả năng của khách hàng. Lãi suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn lãi suất tiết kiệm thông thường. Ngoài ra việc phụ thuộc vào kỳ hạn gửi tiền thì lãi suất tiền gửi góp còn phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai lần tiền gửi, khoảng cách này càng nhỏ thì khách hàng nhận lãi suất tiền gửi càng cao. ” “Như đã trình bày nghiên cứu ở trên HĐV từ tiền gửi cá nhân có ý nghĩa rất quan trọng với xã hội, với ngân hàng và với dân cư.
Trong phạm vi nghiên cứu còn hạn chế của luận văn, tác giả chỉ xin đề cập đến HĐV tiền gửi cá nhân như một phương thức tài chính chủ yếu của NHTM để tập thu hút cao nhất các nguồn lực trong xã hội nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình. Vì vậy, muốn đánh giá được vai trò củachất lượng HĐV tiền gửi cá nhân đối với NHTM thì yếu tố chi phí huy động từ nguồn tiền gửi này sẽ là yếu tố không thể bỏ qua. Là một hình thức “kinh doanh tiền” nếu chi phí huy động quá cao sẽ kéo theo lãi suất đầu ra cũng tăng cao, điều này sẽ dẫn đến thu hẹp các hoạt động cho vay và từ đó sẽ ảnh hưởng đến nguồn Luan van 15 sinh lợi nhuận của ngân hàng 1.2 Hiệu quả hoạt động huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm hiệu quả huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác đang phải đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt. Bất cứ biến động nào đều làm ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng.
Do vậy, hiệu quả trong hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm không chỉ đánh giá chính xác hoạt động huy động vốn nói riêng mà còn phản ánh khả năng thích nghi và khẳng định sự phát triển trên thị trường của ngân hàng. Hiệu quả chính là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí hoạt động bỏ ra. Như vây, hiệu quả huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm được thể hiện ở khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ, nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại 1.
Cơ cấu nguồn vốn huy động tiền gửi tiết kiệm Cơ cấu vốn tiền gửi là tỷ trọng mỗi loại tiền gửi trên tổng vốn tiền gửi của khách hàng. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ giữa các loại vốn tiền gửi trong tổng nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm, nguồn vốn tiền gửi loại nào nhiều nhất, loại nào ít nhất. Từ đó, thấy sự phù hợp cân đối giữa các loại nguồn vốn tiền gửi trong tổng nguồn vốn tiền gửi hay chưa, ngân hàng định hướng đầu tư hoặc cho vay vào lĩnh vực nào, với quy mô tương ứng bao nhiêu thì cũng sẽ có kế hoạch xây dựng cơ cấu nguồn vốn tiền gửi tương ứng Sự biến đổi về cơ cấu nguồn vốn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu tư và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro của hoạt động kinh doanh ngân hàng .