phần mở đầu và kết luận, khóa luận cấu trúc gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Một số cơ sở lý luận về công chức, công chức cấp xã và chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng đội ngũ công chức tại UBND Phƣờng Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức tại UBND Phƣờng Cát Dài, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng. MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC, CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ.
Một số khái niệm. Khái niệm công chức và khái niệm công chức cấp xã. * Khái niệm công chức Tại Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính quốc gia. Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa đã lần đầu tiên cho ra đời định nghĩa về công chức: “Những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ, trong hay ngoài nƣớc, đều là công chức, trừ một số trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định".
[21,1] Năm 2008, Quốc hội nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và đây đƣợc cho là bƣớc tiến quan trọng, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đƣờng lối của Đảng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, xác định: “ Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh theo các vị trí việc làm thuộc cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân nhƣng không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, thuộc biên chế và hƣởng lƣơng bằng ngân sách nhà nƣớc”. [8,1] Năm 2019, Quốc hội ban hành Luật số 52/2019/QH14 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật 6 Viên chức số 58/2010/QH12. Trong đó, khoản 2 Điều 4 đƣợc sửa đổi bổ sung nhƣ sau: “Công chức là công dân Việt Nam, đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tƣơng ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và trả lƣơng bằng ngân sách nhà nƣớc.
[12,1] * Khái niệm công chức cấp xã Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Công chức cấp xã gồm các chức danh nhƣ: + Trƣởng công an; + Chỉ huy trƣởng quân sự; + Văn phòng - thống kê; + Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng đối với phƣờng, thị trấn, hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng đối với xã. + Tài chính - kế toán; + Tƣ pháp - hộ tịch; + Văn hoá - xã hội. Khái niệm chất lượng công chức cấp xã và chất lượng đội ngũ công chức cấp xã.
Khái niệm chất lượng công chức cấp xã: Chất lƣợng công chức cấp xã là tập hợp các đặc tính phản ánh chất lƣợng cá nhân mỗi công chức cấp xã qua ba yếu tố chính là thể lực - trí lực - tâm lực với các yếu tố khác nhau nhƣ: 7 - Thể lực: Đƣợc biểu hiện ở các chỉ tiêu về sức khỏe trên phƣơng diện y tế nhƣ: chiều cao, cân nặng huyết áp, nồng độ cholesterol trong máu, chỉ số hormone do tuyến yên tiết ra, chỉ số BMI, trí nhớ tốt, hành động linh hoạt… - Trí lực: Trí lực đƣợc thể hiện qua trình độ, năng lực và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ. Trình độ bao gồm trình độ chuyên môn, trình độ tin học ngoại ngữ và các trình độ khác thể hiện mức độ hiểu biết và khả năng đáp ứng công việc, hoàn thành nhiệm vụ của một công chức cấp xã. Năng lực gồm có năng lực tƣ duy và năng lực thực thi, thừa hành. Năng lực tƣ duy nhƣ: biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản biện, sáng tạo.
Năng lực thực thi, thừa hành theo các yêu cầu, chuẩn mực của các ngạch cán sự, chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp. Kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ là các kỹ năng nhƣ: giao tiếp, quản lý thời gian, phân tích công việc, phân chia công việc, hoạt động nhóm, xây dựng kế hoạch, chỉ đạo công việc… Bên cạnh đó, công chức là ngƣời đứng đầu tập thể phải trau rồi thêm năng lực, kỹ năng chỉ đạo, chỉ huy, giám sát, kiểm tra… - Tâm lực: Tâm lực biểu hiện chủ yếu qua thái độ, trách nhiệm trong quá trình thực hiện công việc. Cả hai khía cạnh này đều có điểm chung là trạng thái tâm lý của công chức có thể tích cực hoặc không tích cực đƣợc thể hiện ra ngoài qua các hành vi, cử chỉ cụ thể. Ngoài ra có các yếu tố tác động, quy định trạng thái tích cực hay không tích cực trong lời nói, việc làm, cử chỉ của công chức.
Các yếu tố này chia thành hai nhóm là vật chất nhƣ: tiền lƣơng, tiền thƣởng, …và tinh thần nhƣ: sự công nhận, khích lệ, động viên,. Trong công việc, công chức khi có thái độ tiêu cực vẫn phải hoàn thành công việc đƣợc giao, nếu thực hiện sai hoặc không đạt kết quả sẽ phải chịu trách nhiệm. Trong khi pháp luật của Chính phủ điều chỉnh các hành vi của công chức thì tâm lý sẽ điều chỉnh thái độ của công chức. [ 22,1] 8 Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã: Chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã (tập thể công chức cấp xã) là đặc tính của một nhóm công chức dựa vào các yếu tố sau: - Về số lƣợng công chức: Gồm số lƣợng công chức trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và tổng số công chức thuộc đội ngũ làm việc trong bộ máy nhà nƣớc theo các cấp.
- Về cơ cấu công chức: Cơ cấu công chức cấp xã bao gồm các cơ cấu về độ tuổi, giới tính, bộ phận làm việc, trình độ đào tạo, thêm niên làm việc… - Về chất lƣợng cá nhân công chức: Chất lƣợng đội ngũ công chức còn đƣợc tập hợp từ chất lƣợng cá nhân mỗi ngƣời cùng mức độ ăn ý khi phối hợp với nhau để thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan thuộc bộ máy nhà nƣớc. Đánh giá về chất lƣợng đội ngũ công chức hay rộng hơn là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức cần xem xét trên cả ba phƣơng diện là số lƣợng, cơ cấu và chất lƣợng cá nhân và tập thể công chức. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng công chức cấp xã 1. Trình độ của công chức cấp xã Trình độ là yếu tố quan trọng đầu tiên để đánh giá công chức cấp xã, phản ánh trực tiếp mức độ đáp ứng công việc của họ và là căn cứ để thể hiện chất lƣợng của công chức cấp xã.
Trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn phản ánh các kiến thức chuyên môn đặc thù của một chuyên ngành, một lĩnh vực nhất định. Trình độ chuyên môn đƣợc tích lũy thông qua quá trình đào tạo chuyên sâu ở các trƣờng đào tạo thuộc hệ thống đào tạo quốc dân nhƣ: dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Trong quá trình đào tạo, các cơ sở đào tạo trang bị cho họ các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên ngàn, đƣợc thể hiện qua hệ thống chứng chỉ, bằng cấp chuyên môn. Trình độ ngoại ngữ, tin học: Ngoại ngữ, tin học là yếu tố quan trọng, phục vụ cho các hoạt động thực thi công vụ của công chức vào thời điểm Việt 9 Nam hội nhập toàn cầu.
Việc đƣợc học thêm ngoại ngữ và tin học sẽ cung cấp thêm phƣơng tiện để công chức cấp xã khai thác, áp dụng, chuyển tải và thu nhận thông tin một cách hiệu quả, phong phú, góp phần phục vụ đắc lực cho các hoạt động thực thi công vụ, nâng cao chất lƣợng của đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội. Trình độ lý luận chính trị: Là thƣớc đo mức độ nhận thức, tƣ duy, lý luận về những vấn đề cơ bản liên quan đến lĩnh vực chính trị, những kiến thức nhƣ: Chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh; chế độ xã hội chủ nghĩa. Giúp công chức thấm nhầm quan điểm, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc. Bên cạnh đó, trình độ lý luận chính trị giúp công chức có lập trƣờng, tƣ tƣởng vững vàng, đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo đúng định hƣớng chính trị của Đảng và Nhà nƣớc, mang chính sách của Nhà nƣớc vào thực tế cuộc sống đƣợc dễ dàng và hiệu quả.
Do đó, để nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã nhất thiết phải nâng cao trình độ lý luận chính trị. Trình độ quản lý nhà nước: Là các kiến thức của công chức liên quan tới pháp luật; các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nƣớc; về đội ngũ cán bộ, công chức và thực hiện nhiệm vụ; về cải cách nền hành chính và nội dung quản lý nhà nƣớc về các lĩnh vực, các nghiệp vụ cơ bản của công chức. Qua đó, ngƣời công chức cấp xã hiểu sâu sắc, cụ thể hơn về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình. Đồng thời, cung cấp thêm những kỹ năng, phƣơng pháp, công cụ quản lý nhà nƣớc cần thiết trong các hoạt động công vụ.
Kỹ năng của công chức cấp xã Kỹ năng giao tiếp: Công chức cấp xã là ngƣời đại diện cho Nhà nƣớc, trực tiếp tiếp xúc với ngƣời dân, trực tiếp giải quyết, cung cấp các dịch vụ hành chính công cho nhân dân, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, vận động quần chúng. Vì vậy, kỹ năng giao tiếp trong công vụ rất cần thiết để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ.