CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Khái niệm, đặc điểm, nhiệm vụ và quyền hạn của CBCC 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về cán bộ, công chức Các nước trên thế giới có nhiều điểm chung, cơ bản giống nhau trong quan niệm về công chức, mặt khác, do truyền thống văn hóa - xã hội - do đặc điểm chính trị - kinh tế nên mỗi nước có những điểm riêng.
Khái niệm ở Việt Nam công chức được hình thành và thường gắn liền với sự hình thành, phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nước. Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức như sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định". Tuy nhiên, các khái niệm này, chưa phân định rõ ràng ai là cán bộ - ai là công chức. Đến năm 2008, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12.
Có thể nói; đây là bước tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Theo quy định tại khoản 1,2 Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức 2008 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 nêu rõ: "Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt 5 Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, huyện trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, huyện thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Như vậy, công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, mà bao gồm cả những người làm việc ở các Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ)và các tổ chức chính trị - xã hội như: Hội Liên hiệp Phụ nữ; Hội Nông dân; Hội Cựu chiến binh; Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Công đoàn Việt Nam; các cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân, công an nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân từ cấp Trung ương đến cấp huyện.
Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng thích ứng thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao. Đặc điểm của cán bộ, công chức Cán bộ công chức là những người trưởng thành về thể chất và trưởng thành về mặt xã hội; họ được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm giữ một chức vụ 6 thường xuyên trong các công sở của Nhà nước, họ đang trực tiếp tham gia vào bộ máy công quyền của nền hành chính quốc gia. Như vậy, họ là những người tự làm chủ được hành vi, thái độ của mình và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là một công dân, một công chức hành chính. Họ trưởng thành ở mặt xã hội còn biểu hiện ở giá trị sản phẩm lao động của họ được xã hội công nhận và bằng sức lao động của mình, họ đã nuôi sống được bản thân, hơn nữa, sự trưởng thành về mặt xã hội còn thể hiện ở cuộc sống riêng tư của họ, họ là những người có đầy đủ điều kiện hành vi trước pháp luật.
CBCC là những người đã có vị thể xã hội, vì công chức là những người đang giữ chức vụ hoặc trách nhiệm nhất định theo trình độ đào tạo và được xếp vào ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính, bởi vậy, công chức đang có vị thế xã hội nhất định để thực hiện quyền lực của nhà nước quản lý toàn xã hội. Công chức có nhiều kinh nghiệm sống được tích lũy tùy theo lĩnh vực mà họ hoạt động. Bởi là công chức, họ phải được đào tạo ở trình độ nhất định, cùng với vị trí làm việc của mình trong bộ máy công quyền. Nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức Quyền hạn của cán bộ, công chức gắn với nhiệm vụ được giao và là phương tiện để họ thực hiện nhiệm vụ.
Do đó, nhiệm vụ và quyền hạn của cán bộ, công chức được quy định ở những văn bản khác nhau cho từng lĩnh vực, từng cơ quan, từng người phụ trách. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 1. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Chất lượng đội ngũ cán bộ - công chức trước hết được hiểu đó chính là chất lượng, lao động của cán bộ, công chức, một loại lao động có tính đặc thù riêng, xuất phát từ vị trí, vai trò của chính đội ngũ lao động này. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phụ thuộc vào chất lượng của từng thành viên, cán bộ công chức, trong đội ngũ đó.
Mỗi cán bộ, công chức không tồn tại một cách biệt lập, mà phải được đặt trong một chính thể, thống nhất của đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức phải được 7 đặt trong mối quan hệ biện chứng, giữa chất lượng của từng cán bộ, công chức đối với chất lượng của cả đội ngũ. Chất lượng của cả đội ngũ không phải là sự tập hợp giản đơn số lượng, mà là sự tổng hợp sức mạnh của toàn bộ đội ngũ. Sức mạnh này bắt nguồn từ phẩm chất vốn có bên trong của mỗi cán bộ, và nó được tăng lên gấp bội bởi tính thống nhất, của tổ chức; của sự giáo dục, đào tạo, phân công, quản lý của kỷ luật.
Như vậy có thể nói chất lượng đội ngũ cán bộ công chức bao gồm: - Chất lượng của từng cán bộ, cụ thể là phẩm chất chính trị, đạo đức; trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng của từng cán bộ là yếu tố cơ bản tạo nên chất lượng của cả đội ngũ. - Chất lượng của cả đội ngũ với tính cách là một chính thể, thể hiện ở cơ cấu đội ngũ được tổ chức khoa học, có tỷ lệ cân đối, hợp lý vì số lượng và độ tuổi bình quân được phân bổ trên cơ sở của địa phương, ngành, lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã xác định: “Chất lượng của cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ”.
Theo đó, chất lượng đội ngũ cán bộ, có tính ổn định tương đối, có thể cao hoặc thấp do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan, không bất biến, thường xuyên vận động, biến đổi, phát triển theo yêu cầu, nhiệm vụ; chịu sự tác động mạnh mẽ của thực tiễn và phụ thuộc vào quá trình bồi dưỡng, rèn luyện, phấn đấu của mỗi người cán bộ. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Trong thế giới, cái gì cũng biến hoá. Tư tưởng con người cũng biến hoá. Vì vậy, cách xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hoá… Một người cán bộ khi trước sai lầm, không phải vì thế mà sai lầm mãi.
Cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm? Quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi người không phải luôn giống nhau”. Để nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng với số lượng cán bộ công chức. Chỉ khi 8 nào hai mặt này quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ. Trong thực tế, chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả.
Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số lượng. Khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của đội ngũ CBCC ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ. Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ cán bộ công chức không chỉ bao gồm một mặt, một khía cạnh nào đó, mà có bao gồm cả một hệ thống, được kết cấu như một chính thể toàn diện từ chất lượng của từng cán bộ (đây là yếu tố cơ bản nhất, tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam, nữ, độ tuổi, thành phần của đội ngũ cùng với việc bồi dưỡng, giáo dục, phân công, quản lý kiểm tra, giám sát và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần phải coi trọng chất lượng cán bộ công chức trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp lý, có tính kế thừa.