CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ MÔI GIỚI CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái quát về công ty chứng khoán 1. Khái niệm, đặc điểm của công ty chứng khoán. Khái niệm công ty chứng khoán TTCK (TTCK) là một thị trường mà nơi đó diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán với mục tiêu cuối cùng là thu hút vốn đầu tư cho việc phát triển nền kinh tế.
Sản phẩm trên TTCK không giống với các hàng hoá thông thường khác mà chúng là những hàng hoá đặc biệt, là quyền sở hữu về tư bản gọi tắt là các chứng khoán. Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Một TTCK ra đời và hoạt động hiệu quả thì phải cần các chủ thể tham gia kinh doanh trên TTCK. Công ty chứng khoán ra đời là trung gian kết nối những người mua và bán chứng khoán với nhau nhằm đảm bảo TTCK hoạt động một cách có trật tự, công bằng và hiệu quả.
Chính vì trung gian là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTCK nên phải có các nhà môi giới để đảm nhận khâu này. Ở giai đoạn đầu của TTCK, các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau. Khi thị trường đã dần được hoàn thiện với sự tăng lên về khối lượng giao dịch, quy mô thì các nhà môi giới riêng lẻ có xu hướng tập hợp theo một tổ chức nhất định - chính là công ty chứng khoán. Ở Việt Nam, khái niệm về Công ty chứng khoán có thể tìm hiểu trong Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 và được hiểu khái quát: Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh theo giấy phép kinh doanh do Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp.
Mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK có những đặc điểm khác nhau tuỳ vào sự phát triển khác nhau của từng khối thị trường. Có thể khái quát mô hình tổ chức kinh doanh của CTCK theo hai nhóm sau: 7 Thứ nhất là mô hình CTCK đa năng: theo mô hình này, CTCK được tổ chức dưới hình thức một tổ hợp dịch vụ tài chính tổng hợp bao gồm kinh doanh chứng khoán, kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ tài chính. Theo đó các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này được tổ chức dưới hai hình thức sau: Loại đa năng một phần: theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ.
Loại đa năng toàn phần: các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ khác. Thứ hai là mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập và chuyên môn hoá trong lĩnh vực chứng khoán đảm trách, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Mỗi mô hình đều tồn tại những ưu, nhược điểm riêng của nó.Với mô hình thứ nhất, ưu điểm lớn nhất của nó là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh,nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính.
Nhưng cũng chính vì thế mà khả năng chuyên môn sẽ không sâu, là nguyên nhân dẫn đến TTCK kém phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ, thích hoạt động cho vay hơn là thực hiện các nghiệp vụ của TTCK. Đồng thời nó dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường khi điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh. Ưu điểm của mô hình CTCK chuyên doanh là hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các CTCK đi vào chuyên môn hoá sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển; tuy nhiên xu thế ngày nay lại chính là việc hình thành nên các tập đoàn tài chính khổng lồ. Đặc điểm công ty chứng khoán Hoạt động của công ty chứng khoán (CTCK) rất đa dạng và phức tạp với các 8 hoạt động nghiệp vụ và phụ trợ như: môi giới, tự doanh, lưu ký chứng khoán, tư vấn tài đầu tư, quản lý danh mục.
Do đó ở từng quốc gia khác nhau, thậm chí ngay cùng một nước, các CTCK mang những đặc trưng riêng bởi sản phẩm, dịch vụ…mà họ cung cấp. Các công ty chứng khoán ở các nước hay trong cùng một nước vẫn được tổ chức khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất công việc của mỗi công ty hay mức độ phát triển của thị trường. Tuy nhiên chúng vẫn có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất: Công ty chứng khoán đóng vai trò là một tổ chức trung gian tài chính, thể hiện ở các khía cạnh. - Trung gian về thanh toán: do CTCK là một thành viên của hệ thống thanh toán lưu ký nên nó là một trung gian thanh toán.Chức năng này được thể hiện thông qua việc thanh toán giữa người phát hành và nhà đầu tư, giữa người mua và người bán.
Nếu người mua và người bán cùng mở tài khoản và cùng lưu ký tại một công ty chứng khoán thì việc thanh toán sau giao dịch của họ đơn giản hơn rất nhiều. - Trung gian về rủi ro: trên TTCK luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các chủ thể tham gia vào TTCK như: các CTCK, các nhà đầu tư… luôn phải đối mặt với các rủi ro đó. Nhà đầu tư khi thực hiện kinh doanh chứng khoán trên TTCK có những rủi ro như: rủi ro trong sự tăng giảm giá chứng khoán, rủi ro trong khi giao dịch.… CTCK đóng vai trò là là người đứmg giữa và thực hiện các giao dịch cho khách hàng sẽ giúp nhà đầu tư phân tán rủi ro bằng việc đầu tư vào các chứng chỉ quỹ và trong giao dịch cũng có người được lợi và người gặp rủi ro.
- Trung gian giao dịch: xuất phát từ nhu cầu của những chủ thể có điều kiện về vốn nhưng trình độ, khả năng phân tích còn hạn chế nên quỹ đầu tư chứng khoán ra đời. Để thu hút được nguồn vốn hoạt động thì các quỹ này phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư và chủ sở hữu của các chứng chỉ này là các chủ thể trên. Hình thức hoạt động của các quỹ này là dùng một số lượng lớn vốn đầu tư vào một số loại chứng khoán với kỳ hạn và mức rủi ro khác nhau để kiếm lời. - Trung gian về thông tin: với chức năng này, CTCK phải thu thập,tìm hiểu thông tin về tình hình tài chính, mục tiêu đầu tư, khả năng chấp nhận rủi ro với khách hàng; đảm bảo các khuyến nghị, tư vấn đầu tư của công ty cho khách hàng 9 phải phù hợp với khách hàng đó (theo Luật chứng khoán).
Bên cạnh đó, các CTCK phải công bố thông tin định kỳ về báo cáo tài chính theo quy định. - Trung gian tín dụng: đối với các CTCK thuộc ngân hàng mẹ thì vai trò này được thể hiện rõ nhất. Vốn mà ngân hàng cho các nhà đầu tư vay để tham gia vào thị trường chính là vốn huy động từ các nhà đầu tư trước đó. Họ là người gắn kết các nhu cầu cần vốn (người bán chứng khoán) và nhu cầu của người cần đầu tư (người mua chứng khoán).
Thứ hai, CTCK là doanh nghiệp có sự chuyên môn hoá và phân cấp quản lý cao Các CTCK chuyên môn hoá ở mức độ cao trong từng bộ phận, từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ. Một số bộ phận trong tổ chức công ty nhiều khi không phụ thuộc lẫn nhau (ví dụ như bộ phận môi giới và bộ phận tự doanh, hay bộ phận bảo lãnh phát hành…). Thứ ba, nhân tố con người trong CTCK chiếm vai trò rất quan trọng Trong CTCK, quan hệ với khách hàng có tầm quan trọng hàng đầu. Sản phẩm càng trừu tượng thì nhân tố con người càng quan trọng.
Việc CTCK tạo được niềm tin với các nhà đầu tư, đồng thời họ thích sử dụng các dịch vụ của công ty sẽ đem lại cho công ty một nguồn doanh thu vô cùng lớn. Thứ tư, CTCK là doanh nghiệp chịu sự ảnh hưởng lớn của thị trường tài chính Thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng có ảnh hưởng lớn tới chuyên môn, sản phẩm, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của các công ty chứng khoán. Với những mức độ phát triển khác nhau của thị trường, cơ cấu tổ chức và các sản phẩm cũng khác nhau để đáp ứng nhu cầu riêng. Thứ năm, CTCK là một tổ chức trung gian đặc biệt hoạt động trên lĩnh vực khá nhạy cảm nên chịu sự kiểm soát song hành của Nhà nước và hiệp hội kinh doanh chứng khoán.
Ở Việt Nam, CTCK chịu sự quản lý của Bộ tài chính và Uỷ ban chứng khoán Nhà nước. Nhà nước kiểm soát các CTCK bằng các văn bản quy phạm pháp luật như các Nghị định, Luật chứng khoán và các thông tư hướng dẫn như: CTCK phải 10 đảm bảo các yêu cầu về vốn, cơ cấu vốn và nguyên tắc hạch toán, báo cáo theo quy định của UBCKNN. CTCK phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với tài sản của mình, không được dùng chứng khoán của khách hàng làm vật thế chấp trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản; CTCK không được dùng tiền của khách hàng làm nguồn tài chính để kinh doanh ngoại trừ trường hợp số tiền đó phục vụ cho giao dịch của khách hàng… 1. Các nghiệp vụ cơ bản của công ty chứng khoán Theo Luật chứng khoán 1/7/2007 và nghị định 14 của Chính phủ số 14/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán quy định vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của CTCK, CTCK có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh CTCK nước ngoài tại Việt Nam là: Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam; Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam; Bảo lãnh phát hành chứng khoán : 165 tỷ đồng Việt Nam; Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam; Các CTCK phải có trụ sở, có trang thiết bị, thiết bị phục vụ cho kinh doanh chứng khoán, đối với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán thì không phải đáp ứng các điều kiện về trang thiết bị.