MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngay từ khi xã hội loài ngƣời chúng ta hình thành đã hình thành nên mối quan hệ song hành và tƣơng tác, cơ sở tạo nên một nền kinh tế đó là: Doanh nghiệp (DN); Sản Phẩm và Khách hàng (KH). Sản phẩm là sự kết tinh văn hóa và trí tuệ của DN, nhƣng không phải chỉ cần sản xuất ra một sản phẩm, một dịch vụ là DN đang thành công. Vấn đề quan trọng nhất ở đây chính là sự đánh giá của KH và sự hài lòng của KH về sản phẩm/dịch vụ mà DN cung cấp.
Một DN có phát triển bền vững thực sự hay không phần lớn nhờ vào sự tin tƣởng và tin dùng của KH về sản phẩm và dịch vụ đó của DN. Song song với việc sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ Chăm sóc khách hàng (CSKH) có vai trò quan trọng trong việc nâng cao lợi thế cạnh tranh cho các DN. Đối với ngành kinh doanh dịch vụnói chung và dịch vụ Bƣu chính nói riêng, hoạt động CSKH càng đặc biệt hơn, nó thực sự giúp DN khác biệt hoá đƣợc hình ảnh của mình trong tâm trí KH, duy trì KH hiện có, gia tăng KH trung thành, thu hút KH tiềm năng và đăc biệt giảm chi phí kinh doanh cho DN. Công tác CSKH là hoạt động vô cùng quan trọng trong chuỗi hoạt động Marketing của DN nhằm hƣớng các hoạt động quản lý của DN vào KH mục tiêu đem lại sự thoả mãn vƣợt trội cho KH khi sử dụng hay tiêu dùng dịch vụ với chất lƣợng CSKH tốt nhất.
Là một nhân viên của Chi nhánh Bƣu chính Viettel Hải Phòng (VTP Hải Phòng), tôi đã đƣợc tiếp xúc với nhiều cuộc khảo sát đo lƣờng mức độ hài lòng của KH khi gọi lên tổng đài tƣ vấn dịch vụ. Qua kết quả khảo sát cho thấy: Chất lƣợng giải đáp hiện nay chỉ đáp ứng đƣợc khoảng 65% mong muốn của KH, còn tới 56% cuộc gọi qua nhân viên trực tổng đài còn cứng nhắc, dập khuôn theo định hƣớng giải đáp cũng nhƣ quy trình dẫn đến cuộc gọi chƣa đạt kết quả nhƣ mong muốn của KH và kéo dài thời lƣợng không cần thiết. Những kết quả trên đã phản ánh phần nào mặt bằng chất lƣợng CSKH tại VTP Hải Phòng. Và thực tế cho thấy đa phần nhân viên đang làm theo cách 2 mà họ cảm nhận nhiều hơn KH cảm nhận, xử lý mọi việc theo quy trình.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của hoạt động CSKH đối với VTP Hải Phòng và mong muốn đƣợc áp dụng những kiến thức đã đƣợc học tập, nghiên cứu vào thực tế công việc hiện tại, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Biện pháp nâng cao chất lƣợng dịch vụ chăm sóc khách hàng tại Chi nhánh Bƣu chính Viettel Hải Phòng”. Với hy vọng những phân tích và nghiên cứu của mình có thể góp phần nâng cao chất lƣợng CSKH tại Chi nhánh Bƣu chính Viettel Hải Phòng và khẳng định vị thế Viettel Post trong cảm nhận của KH. Tình hình nghiên cứu đề tài Thực trạng hoạt động chăm sóc khách hàng tại VTP Hải Phòng, đơn vị hạch toán phụ thuộc Tổng công ty cổ phần bƣu chính Viettel đang gặp nhiều khó khăn bởi tƣ duy kinh doanh cũ mang hơi hƣớng nhà nƣớc trong nhiều năm qua tuy đã sở hữu số lƣợng lớn khách hàng, chiếm đa số thị phần nhƣng không còn phù hợp nữa khi có sự tham gia cạnh tranh của các doanh nghiệp chuyển phát khác nhƣ Sài Gòn Post, Giao hàng nhanh, Giao hàng tiết kiệm, J&T. có những tác động làm chia sẻ thị phần, thị phần VTP Hải Phòng giảm sút nghiêm trọng đặt ra bài toán khẩn thiết là giữ khách hàng và tạo ra khách hàng trung thành là nhiệm vụ vô cùng quan trọng với VTP Hải Phòng.
Trƣớc tình hình thực tế về thị phần VTP Hải Phòng cần phải có những đổi mới trong cách nghĩ cũng nhƣ cách làm để giải bài toán CSKH theo phƣơng pháp hiện đại, vận dụng lý thuyết về quản lý chất lƣợng CSKH, tổ chức thực hiện chăm sóc khách hàng một cách chuyên nghiệp nhằm nâng cao hơn nữa chất lƣợng chăm sóc khách hàng tạo sự hài lòng cho khách hàng để giữ khách hàng tại VTP Hải Phòng. Mục đích nghiên cứu: Đánh giá thực trạng tình hình CSKH tại VTP Hải Phòng, chỉ ra điểm mạnh điểm yếu. Từ đó đề xuất giải pháp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để nâng cao chất lƣợng CSKH. Mục đích nghiên cứu của luận văn là: giữ KH hiện có, phát triển KH trung thành, nâng cao sự hài lòng của KH, thu hút tối đa KH 3 mới, giảm chi phí kinh doanh.
Từ đó giúp đơn vị phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh, khẳng định vị thế trên thị trƣờng. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu: Các hoạt động CSKH của VTP Hải Phòng trong giai đoạn 2014-2018 và đề xuất các biện pháp trong thời gian tới. Phạm vi nghiên cứu: trong khoảng thời gian 5 năm (2014-2018) 5. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.
Dữ liệu thứ cấp: tổng hợp thông tin từ các số liệu, các báo cáo thống kê, các bảng tổng kết hoạt động kinh doanh qua các năm do VTP Hải Phòng cung cấp. Bên cạnh đó còn thu thập thông tin, dữ liệu qua nghiên cứu tài liệu, giáo trình, đề tài nghiên cứu, sách, bài báo, các trang web. liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Dữ liệu sơ cấp: dùng bảng điều tra có các câu hỏi trực tiếp thu thập thông tin từ khách hàng VTP Hải Phòng.
Điều tra bằng hình thức phát phiếu cho KH thông qua bộ phận trực tiếp hỗ trợ khách hàng, bằng cách đặt bảng hỏi sẵn cho khách trả lời. Đóng góp của luận văn Đứng trƣớc những khó khăn và thách thức của thị trƣờng hiện tại và nhận thức đƣợc tầm quan trọng của hoạt động CSKH là rất cần thiết và cấp bách với VTP Hải Phòng. Là một nhân viên của VTP Hải Phòng, bản thân tôi rất mong muốn đƣợc ứng dụng những lý luận về quản lý chất lƣợng và chất lƣợng dịch vụ CSKH các thầy cô đã trau dồi để đánh giá, nhìn nhận và đề xuất các giải pháp giá trị có tính thực tiễn cao. Đồng thời các giải pháp đề suất của cá nhân sẽ sớm đƣợc ứng dụng tại VTP Hải Phòng góp phần nâng cao chất lƣợng dịch vụ chăm sóc khách hàng, giữ KH hiện có, phát triển KH trung thành, nâng cao sự hài lòng của KH, thu hút tối đa KH mới, giảm chi phí kinh doanh.
Từ đó giúp đơn vị phát triển bền vững và nâng cao khả năng cạnh tranh, khẳng định vị thế trên thị trƣờng. Kết cấu luận văn: 4 Chƣơng 1: Tổng quan về chất lƣợng dịch vụ chăm sóc khách hàng trong lĩnh vực Bƣu Chính. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng dịch vụ chăm sóc khách hàng tại Chi nhánh Bƣu chính Viettel Hải Phòng giai đoạn 2014-2018. Chƣơng 3: Biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dịch vụ chăm sóc khách hàng tại Chi nhánh Bƣu chính Viettel Hải Phòng.
5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ CHĂM SÓCKHÁCH HÀNG TRONG NGÀNH BƢU CHÍNH 1. Khách hàng và dịch vụ chăm sóc khách hàng trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về khách hàng Trong nền kinh tế thị trƣờng KH đƣợc tôn vinh lên một vị trí rất quan trọng, KH là Thƣợng đế. KH là ngƣời trả lƣơng cho chúng ta.
Do đó các công ty luôn phải xem KH nhƣ là nguồn vốn cần đƣợc quản lý và phát huy nhƣ bất kỳ nguồn vốn nào khác. Theo Tom Peters, KH đƣợc coi là “tài sản làm tăng thêm giá trị”. Mặc dù giá trị của KH không đƣợc phản ánh trên hệ thống sổ sách nhƣng họ luôn đƣợc là tài sản quan trọng nhất đối với mọi doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Peters Drucker, ngƣời đƣợc coi là cha đẻ của ngành quản trị cho rằng mục tiêu chính của doanh nghiệp là “tạo ra KH”[11, tr 21].
KH đƣợc đánh giá là đối tƣợng quan trọng nhất đối với mọi doanh nghiệp. Khách hàng thƣờng đƣợc coi là một phần trong việc kinh doanh của doanh nghiệp. Khi DN phục vụ KH, không phải DN giúp đỡ KH mà là KH đang giúp đỡ DN, họ đangtạo cơ hội để doanh nghiệp phục vụ họ. DN cần nắm bắt đƣợc nhu cầu của KH, cho nên DN phải biết đƣợc KH của mình là ai.
DN chỉ giới hạn khái niệm KH là những ngƣời làm ăn bên ngoài với DN, họ là những ngƣời mua và tiêu thụ sản phẩm của DN. KH đƣợc coi là tài sản góp phần làm tăng thêm giá trị của DN. Nhƣng chúng ta cần hiểu khái niệm KH một cách rộng hơn thế. KH là những ngƣời chúng ta phục vụ cho dù họ có trả tiền cho sản phẩm - dịch vụ của chúng ta hay không.
KH bao gồm: KH bên ngoài và KH nội bộ. KH bên ngoài: là những ngƣời thực hiện các giao dịch với DN, dƣới nhiều hình thức: giao dịch trực tuyến, giao dịch qua điện thoại hay gặp gỡ trực tiếp. Nếu không có những KH này, DN cũng không thể tồn tại. Những KH đƣợc thỏa mãn đó là những ngƣời mua và nhận sản phẩm hay dịch vụ của DN cung cấp.
Do đó KH có quyền lựa chọn, nếu nhƣ sản phẩm và dịch vụ của DN không làm hài lòng KH thì đƣơng nhiên họ sẽ lựa chọn một nhà cung cấp khác, đến khi 6 đó DN sẽ chịu thiệt hại. Những KH đƣợc thỏa mãn đó là nguồn tạo ra lợi nhuận cho DN và không gì thay đổi họ chính là ngƣời tạo nên sự thành công cho DN. KH không ai khác chính là ông chủ của DN, đƣơng nhiên là ngƣời trả lƣơng cho chúng ta bằng cách tiêu tiền của họ khi dùng sản phẩm, dịch vụ của DN. KH nội bộ: nhân viên của DN cũng chính là KH của DN, các nhân viên cũng chính là KH của nhau.
DN phải đáp ứng đƣợc nhu cầu của nhân viên, phải có những chính sách nhằm phát huy lòng trung thành của nhân viên. Và giữa các nhân viên cần có sự giúp đỡ, quan tâm lẫn nhau trong công việc. Khái niệm về KH có thể đƣợc hiểu theo một nghĩa rộng hơn, DN có thể tạo ra một dịch vụ tốt hơn, hoàn hảo hơn vì chỉ khi nào DN có sự quan tâm tới nhân viên, xây dựng đƣợc lòng trung thành của các nhân viên, đồng thời các nhân viên trong DN có khả năng phối hợp làm việc với nhau, quan tâm đáp ứng nhu cầu và làm hài lòng đồng nghiệp thì lúc đó họ mới có đƣợc tinh thần làm việc mới tốt hơn, đặc biệt là có thể phục vụ các KH bên ngoài của DN một cách hiệu quả, đồng nhất.