Phần mở đầu. Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu cùng với kết cấu của đề tài. Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ: trình bày các khái niệm liên quan đến chất lượng dịch vụ, các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ, mô hình đo lường chất lượng dịch vụ và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng dịch vụ tại các công ty khác. Thực trạng chất lượng dịch vụ cung cấp bê tông trộn sẵn của công ty TNHH Xi Măng Holcim Việt Nam: trình bày tổng quan về công ty TNHH Xi Măng Holcim Việt Nam và bộ phận Holcim Beton, thực trạng chất lượng dịch vụ cung cấp bê tông trộn sẵn của công ty, tìm ra các vấn đề và nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ cung cấp bê tông trộn sẵn của công ty TNHH Xi Măng Holcim Việt Nam.
Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp bê tông trộn sẵn của công ty TNHH Xi Măng Holcim Việt Nam giai đoạn 2017 – 2022: dựa trên các vấn đề trong dịch vụ cung cấp bê tông trộn sẵn của công ty để đưa ra các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ cho công ty. Đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm thực hiện hiệu quả các giải pháp trên. Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ Hiện nay tồn tại khá nhiều định nghĩa về dịch vụ, sau đây là phần điểm qua các định nghĩa về dịch vụ của các tác giả trong và ngoài nước.
Dịch vụ được định nghĩa là những hành động, những nỗ lực hay sự thực hiện, khác biệt chính giữa dịch vụ và hàng hóa là tính vô hình của nó (Hoffman và Bateson, 2010). Một định nghĩa khác nêu lên dịch vụ là mọi hoạt động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó, sản phẩm của nó có thể gắn hay không gắn với một sản phẩm vật chất (Kotler và Keller, 2012). Hoặc cho rằng dịch vụ bao gồm toàn bộ sự hỗ trợ mà khách hàng trông đợi, vượt ra ngoài dịch vụ cơ bản, phù hợp với giá cả, hình ảnh và uy tín có liên quan (Tạ Thị Kiều An và cộng sự, 2010). Theo TCVN ISO 9000:2015, dịch vụ là đầu ra của một tổ chức với ít nhất một hoạt động thiết thực giữa tổ chức và khách hàng.
Tóm lại, có thể hiểu dịch vụ là những hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ Lý thuyết về marketing dịch vụ cho rằng dịch vụ bao gồm ba đặc điểm cơ bản là: vô hình, không đồng nhất, và không thể tách rời. Thứ nhất, phần lớn dịch vụ được xem là sản phẩm vô hình. Dịch vụ không thể cân đong, đo, đếm, tồn trữ, thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua để kiểm tra chất lượng (Robinson, 1999).
Thứ hai, dịch vụ không đồng nhất, đặc biệt đối với những dịch vụ bao hàm sức lao động của con người cao. Lý do là hoạt động của dịch vụ thường thay đổi từ nhà cung cấp dịch vụ, từ khách hàng, và chất lượng dịch vụ cung cấp cũng khác 6 theo từng ngày, tháng, và năm kinh doanh. Việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên cũng sẽ rất khó đảm bảo (Caruana và Pitt, 1997). Sau cùng là sản xuất và tiêu thụ đối với nhiều loại hình dịch vụ thì không thể tách rời (Caruana và Pitt, 1997).
Chất lượng của dịch vụ không được sản xuất trong nhà máy, rồi chuyển nguyên hiện trạng dịch vụ đến người tiêu dùng. Đối với những dịch vụ có hàm lượng lao động cao, ví dụ như chất lượng xảy ra trong quá trình chuyển giao dịch vụ, thì chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và nhân viên của công ty cung cấp dịch vụ (Svensson, 2002). Khái niệm chất lượng dịch vụ Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng dịch vụ, như: Chất lượng dịch vụ là chất lượng mà khách hàng cảm nhận thông qua dịch vụ mà họ nhận được, mang tính chủ quan và được giải thích từ những đặc tính khách quan (Grönroos, 1984). Chất lượng dịch vụ là thái độ của khách hàng được hình thành qua sự đánh giá tổng thể và lâu dài với kết quả phục vụ của doanh nghiệp (Hoffman và Bateson, 2010).
Một dịch vụ được coi là đạt chất lượng khi khách hàng cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện các hứa hẹn của công ty mang đến cho khách hàng giá trị gia tăng nhiều hơn các công ty khác hoạt động trong cùng lĩnh vực (Tôn Thất Nguyễn Thiêm, 2003). Tạ Thị Kiều An và cộng sự cho rằng chất lượng dịch vụ là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu, mong đợi của khách hàng và các bên có liên quan (Tạ Thị Kiều An và cộng sự, 2010). Tuy nhiên, định nghĩa và phương pháp đánh giá chất lượng được các nhà nghiên cứu hay đề cập trong các nghiên cứu của mình là: chất lượng dịch vụ được xem như khoảng cách giữa mong đợi về dịch vụ và nhận thức của khách hàng khi sử dụng dịch vụ (Parasuraman và cộng sự, 1988). Đặc điểm của chất lượng dịch vụ Đặc điểm nổi bật của chất lượng dịch vụ là khách hàng chỉ có thể đánh giá toàn bộ chất lượng của những dịch vụ sau khi đã “mua” và “sử dụng” chúng.
Chất lượng dịch vụ rất khó đo lường và đánh giá bởi chính đặc điểm của dịch vụ là vô hình, khách hàng không thể sờ mó, cầm nắm vì nó không có hình dạng cụ thể như một sản phẩm. Chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào sự cảm nhận của con người khi sử dụng dịch vụ đó. Tuy nhiên, sự cảm nhận lại là một phạm trù tâm lý nên chịu sự phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan của mỗi người, nó không có tính ổn định và không có những thước đo mang tính quy ước. Chất lượng dịch vụ còn phụ thuộc vào quá trình cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp.
Cụ thể là khi đến với doanh nghiệp, khách hàng sẽ đánh giá dịch vụ dựa trên hai nhân tố cơ bản là cơ sở vật chất kỹ thuật và các nhân viên trực tiếp tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp bao gồm các trang thiết bị phục vụ cho quá trình giao dịch, sự thẩm mỹ của thiết kế và lắp đặt các cơ sở vật chất, mức độ vệ sinh trong và ngoài doanh nghiệp, những yếu tố này thường giúp khách hàng trả lời cho câu hỏi cái gì khi cảm nhận chất lượng dịch vụ. Đồng thời yếu tố con người, mà cụ thể là các nhân viên trực tiếp tiếp xúc với khách hàng có tác động rất mạnh và trực tiếp đến sự đánh giá của khách hàng khi tiêu dùng dịch vụ. Các yếu tố cấu thành chất lƣợng dịch vụ Do đặc tính khác biệt của dịch vụ so với sản phẩm hữu hình cũng như quan điểm của khách hàng về chất lượng dịch vụ tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng, thời điểm khác nhau nên có rất nhiều yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ.
Do đó, việc nhận định chính xác các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ không phải là việc đơn giản. Có nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này nhưng phổ biến nhất và được biết đến nhiều nhất là các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman và cộng sự. Sự tin cậy Tin cậy là khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên (Parasuraman và cộng sự, 1988). Sự tin cậy cũng là khả năng của công ty cung cấp các dịch vụ đã cam kết đúng thời gian, chính xác và tin cậy (Ghobadian và cộng sự, 1994).
Tóm lại, sự tin cậy là khả năng một tổ chức cung ứng dịch vụ chính xác, đúng hẹn và uy tín. Tổ chức phải duy trì hoạt động một cách nhất quán, tôn trọng giữ vững cam kết và giữ đúng lời hứa với khách hàng. Sự tin cậy được đo lường bằng năm quan sát sau: (1) Khi công ty hứa làm điều gì đó vào thời gian nào đó thì họ sẽ làm. (2) Khi khách hàng gặp trở ngại, công ty chứng tỏ mối quan tâm thực sự muốn giải quyết trở ngại đó.
(3) Công ty thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu. (4) Công ty cung cấp dịch vụ đúng thời gian đã hứa. (5) Công ty lưu ý để không xảy ra một sai sót nào. Sự bảo đảm Theo Parasuraman và cộng sự (1985) thì sự bảo đảm liên quan tới khả năng đảm bảo an toàn cho khách hàng thể hiện qua an toàn về vật chất, tài chính và cả bảo mật thông tin.
Edvardsson (1998) cho rằng sự đảm bảo là trình độ chuyên môn, năng lực và khả năng của nhân viên tạo được sự tin cậy và tin tưởng cho khách hàng. Tóm lại, sự bảo đảm thể hiện là trình độ chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ, năng lực của nhân viên có đủ kỹ năng và kiến thức cần thiết để cung ứng dịch vụ. Nhân viên có thái độ phục vụ lịch sự, tiếp xúc với khách hàng lễ độ, niềm nở, trân trọng, quan tâm, thân thiện tạo cho khách hàng cảm thấy yên tâm, tin tưởng khi sử dụng dịch vụ. Sau đây là bốn quan sát cho sự đảm bảo như sau: (1) Cách cư xử của nhân viên công ty gây niềm tin cho bạn.
(2) Bạn cảm thấy an toàn trong khi giao dịch với công ty. (3) Nhân viên công ty luôn niềm nở với bạn. (4) Nhân viên công ty có đủ hiểu biết để trả lời câu hỏi của bạn. Phương tiện hữu hình Ghobadian và cộng sự (1994) cho rằng sự hữu hình là toàn bộ tình trạng của cơ sở vật chất và môi trường, ngoại hình bên ngoài của nhân viên và tình trạng của các trang thiết bị.
Hay theo Edvardsson (1998) định nghĩa sự hữu hình liên quan đến 9 môi trường vật lý bên trong việc tổ chức dịch vụ bao gồm cơ sở, trang thiết bị, nhân sự và trang phục nhân viên, tức là những gì khách hàng quan sát, thấy được bên ngoài. Tóm lại, sự hữu hình chính là hình ảnh, môi trường bên ngoài nơi làm việc, khách hàng có thể đánh giá, nhận thấy bằng mắt phong cách, nhận diện thương hiệu của doanh nghiệp. Sự hữu hình được đo lường bằng bốn quan sát sau: (1) Công ty có các trang thiết bị rất hiện đại. (2) Các cơ sở vật chất của công ty trông rất hấp dẫn.