CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VÈ DỊCH v ụ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỐNG QUAN VÈ DỊCH v ụ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG 1. Dịch vụ chăm sóc khách hàng • Khái niệm. Doanh nghiệp dịch vụ nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng đều cung cấp cho khách hàng của mình những dịch vụ trước bán hàng và sau bán hàng, những dịch vụ này hỗ trợ thúc đẩy cho hoạt động bán hàng diễn ra tốt đẹp.
Công việc này do bộ phận dịch vụ CSKH hay bộ phận marketing liên quan đảm nhiệm, về bản chất, hoạt động CSKH là hoạt động dịch vụ hỗ trợ trong đó bao gồm cả hoạt động marketing, gồm -các công việc phục vụ cần thiết nhằm duy trì được khách hàng hiện có của doanh nghiệp. Khách hàng khi sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp, bên cạnh những giá trị do hệ thốne dịch vụ tổng thể tạo ra, họ còn nhận được giá trị tăng thêm do công tác CSKH mang lại. Công tác CSKH góp phần tạo nên một phần giá trị trong tổng số giá trị cung ứng cho khách hàng. Phần giá trị tăng thêm này tuy nhỏ nhưng nó có một ý nghĩa đặc biệt.
Bởi vì những giá trị này đem đến sự hài lòng cho khách hàng. Tạo ra được sự hài lòng cho khách hàng, sẽ góp phần tạo ra được sự trung thành của khách hàng đổi với doanh nghiệp. Công tác CSKH về thực chất không chỉ là dịch vụ khách hàng, mà đó là việc hướng các hoạt động của doanh nghiệp vào khách hàng, là quá trình phân tích tìm hiểu và giải quyết mối quan hệ giữa tổ chức dịch vụ và khách hàng mục tiêu. Như vậy CSKH: “là tất cả các hoạt động dịch vụ nhằm phục vụ khách hàng theo cách mà họ mong muốn được phục vụ và làm những việc cần thiết để giữ các khách hàng hiện có, đồng thời phát triển thêm các khách hàng m ớ i” [6, tr 17].
Đe làm sáng tỏ nội dung chính của dịch vụ CSKH ta cần phân biệt rõ CSKH với dịch vụ khách hàng hay marketing trong một ngân hàng như sau: 5 • Sự khác biệt giữa CSKH và dịch vụ khách hàng Từ định nghĩa trên có thể thấy khái niệm CSKH bao gồm hai phần: Thứ nhất, CSKH là phục vụ khách hàng theo cách mà họ mong muốn. Thứ hai, CSKH nhằm giữ các khách hàng hiện có, tạo ra khách hàng trung thành. Chính điều này làm nên sự khác biệt giữa hai khái niệm CSKH và dịch vụ khách hàng. Thông thường người ta thường đồng nhất hoàn toàn hai khái niệm này, CSKH cũng là dịch vụ khách hàng và ngược lại.
Tuy nhiên, thực sự thì không hẳn vậy. Dịch vụ khách hàng cũng là làm tất cả những gì cần thiết để phục vụ khách hàng theo ý muốn của họ, để thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Nhưng khi nhắc đến dịch vụ khách hàng người ta không nhấn mạnh tới tính mục đích và đối tượng tác động của nó. Hay có thể nói cách khác, đối tượng của dịch vụ khách hàng bao gồm cả khách hàng hiện tại lẫn khách hàng tiềm năng, mục đích của dịch vụ khách hàng cũng bao gồm cả việc duy trì khách hàng hiện tại lẫn thu hút khách hàng tiềm năng.
Trong khi đó, CSKH chỉ đặt trọng tâm vào khách hàng hiện tại, nhàm giữ khách hàng hiện tại. CSKH và dịch vụ khách hàng khác nhau về mục đích và đối tượng tác động. Nội dung của công tác CSKH là thực hiện các dịch vụ khách hàng đối với nhóm khách hàng hiện có. Tất cả các doanh nghiệp nói chung và các Ngân hàng Thương mại nói riêng đều hiểu rằng giữ một khách hàng đang có là: “mười lần dễ hơn và mưòi lần rẻ hơn” so với việc chinh phục được một khách hàng mới để thay thế cho khách hàng mà bạn vừa mất.
• Sự khác biệt giữa CSKH và Marketing Marketing là hoạt động quản lý của doanh nghiệp nhằm phát hiện và thoả mãn các nhu cầu của khách hàng. Nếu xét theo quá trình quản trị Marketing thì Marketing bao gồm tất cả mọi hoạt động từ nghiên cứu thị trường phát hiện nhu cầu, thiết kế sản phẩm (sản phẩm cốt lõi, sản phẩm hiện thực, sản phẩm bổ sung), định giá, xây dựng kênh phân phối và tổ chức các hoạt động xúc tiến. CSKH là một hoạt động Marketing và chỉ xuất hiện trong một số khâu của quá trình đó. 6 Ở khâu thiết kế sản phẩm, trong ba cấp độ cơ bản của một sản phẩm thì CSKH tương ứng với cấp độ 3 - sản phẩm bổ sung.
Nó có ý nghĩa nâng cao giá trị cho sản phẩm dựa trên cấp độ cơ bản và cấp độ hiện thực. Đây chính là vũ khí cạnh tranh của các công ty. Theo xu hướng hiện nay, khi mà cạnh tranh về giá cả và chất lượng dần dần giảm bớt thì khách hàng sẽ chuyển sự chú ý sang các dịch vụ CSKH. Khi đó công ty nào làm tốt công tác CSKH sẽ chiếm ưu thế trên thị trường.
Ngoài ra, CSKH cũng xuất hiện trong một số khâu khác như quá trình xây dựng kênh phân phối, bán hàng trực tiếp, xác định cơ chế khuyến mại.Trong việc xây dựng kênh phân phối, doanh nghiệp cần phải bảo đảm mở rộng mạng lưới đến mức tối đa, tạo điều kiện cho khách hàng có thể tiếp cận dịch vụ dễ dàng. Trong khâu bán hàng trực tiếp, các nhân viên tiếp xúc trực tiếp với khách hàng phải thực hiện tốt công tác CSKH. về mục đích, CSKH chỉ nhằm duy trì khách hàng hiện tại còn Marketing thì liên quan đến cả việc duy trì khách hàng hiện tại và thu hút khách hàng mới. Là một hoạt động Marketing, CSKH nhận được sự hỗ trợ từ các hoạt động khác và ngược lại cũng hỗ trợ cho các hoạt động này.
Như vậy, CSKH không chỉ có nghĩa là để chinh phục khách hàng mới (mặc dù nhiều doanh nghiệp dành rất nhiều thời gian và sức lực để thu hút tập khách hàng tiêm năng này thông qua các hoạt động xúc tiến bán hàng và marketing). CSKH còn có nhiệm vụ mở rộng tập khách hàng trên cơ sở của sự hài lòng tập khách hàng đang có. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu thêm về các vấn đề cơ bản liên quan tới CSKH. • Quy trình cung ứng dịch vụ CSKH khi bán hàng hoá, dịch vụ.
Trong quá trình cung cấp hàng hoá dịch vụ của mình, để phục vụ khách hàng được tốt nhất, hoạt động CSKH thường được vận dụng linh hoạt. Đó thường là một chuỗi các hành động xoay quanh quá trình bán hàng hoá dịch vụ. Như vậy, nếu coi thời điểm bán hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp là một mốc bán hàng. Thì hoạt động CSKH mà doanh nghiện cung cấp cho khách hàng sẽ là các hoạt động trước, trong, và sau mốc bán hàng hoá dịch vụ đó.
Ta có thể hình dung các chuôi hành động đó thành một quy trình cung ứng dịch vụ CSKH khi bán hàng hoá dịch vụ. 7 Mỗi doanh nghiệp khác nhau, với đặc thù sản phẩm hàng hoá dịch vụ của mình mà sẽ có những quy trình cung ứng dịch vụ CSKH khác nhau. Nhưng về cơ bản quy trình cung ứng dịch vụ CSKH khi bán hàng hoá dịch vụ bao gồm các bước như sau: - Giai đoạn trước khi bán hàng hoá dịch vụ là giai đoạn khách hàng chưa trực tiếp sử dụng hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp. Dịch vụ CSKH trong giai đoạn này bao gồm các nội dung chủ yếu như: xác định nhiệm vụ mục tiêu CSKH; xây dựng nhận thức về hình ảnh, sản phẩm doanh nghiệp đối với khách hàng; xây dựng, triển khai quy trình cung ứng dịch vụ CSKH.
- Giai đoạn trong khi bán dịch vụ là giai đoạn khách hàng trực tiếp sử dụng hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp. Giai đoạn này bao gồm một số nội dung chính sau: quản lý khách hàng; quản ký tiến độ, thời gian trong cung ứng; thoả mãn nhu cầu tại chồ của khách hàng; cung ứng dịch vụ phụ trợ. - Giai đoạn sau khi bán hàng hoá dịch vụ là giai đoạn xử lý các vấn đề liên quan đến quá trình sử dụng hàng hoá dịch vụ của khách hàng. Mục đích nhằm duy trì các khách hàng đã sử dụng dịch vụ, củng cố niềm tin cho khách hàng đang sử dụng dịch vụ.
Dịch vụ CSKH trong giai đoạn này bao gồm các nội dung chủ yếu như: xỷ lý, cung cấp, thu thập thông tin phản hồi; giải quyết khiếu nại; công tác hỗ trợ về con người, kỹ thuật; các hoạt động duy trì, củng cố niềm tin; tăng cường kiểm tra chất lượng dịch vụ. Đặc thù về khách hàng trong dịch vụ chăm sóc khách hàng • Vai trò của khách hàng trong hệ thống dịch vụ. Để thấy rõ được nhu cầu của khách hàng như thế nào nhằm đáp ứng một cách tốt nhất thì trước hết ta phải thấy được vị trí vai trò của khách hàng trong hệ thống các yếu tố cấu thành của dịch vụ cho khách hàng.1 cho ta thấy mối quan hệ các yếu tố cấu thành trong dịch vụ. Theo quan điểm của các nhà kinh tế dịch vụ hiện nay thì trong các yếu tố cấu thành của dịch vụ thì khách hàng có tư cách là người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ.
Điều này thể hiện rõ ở các mặt sau: - Khách hàng là một bộ phận đặc biệt trong quá trình sản xuất và cung ứng 8 dịch vụ vì nhân viên phục vụ sẽ sử dụng các phương tiện hỗ trợ tác động đến khách hàng để tạo ra dịch vụ. - Khách hàng quyết định chất lượng dịch vụ thể hiện: khách hàng sẽ tham gia vào quá trình tạo ra dịch vụ với tư cách là đối tượng lao động. - Khách hàng là “nhân viên” không hưởng lương và cùng tham gia quản lý quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ. Khách hàng đánh giá và kiểm tra chất lượng dịch vụ: khách hàng có thể đưa ra lời phê bình đánh giá dịch vụ.
■-*> Cơ sở vật chất kỹ thuật 1— Tổ chức Dịch Vụ — * Khách hàng quản lý Nhân viên phục vụ Hình 1.1: Mối quan hệ các yếu tố cấu thành trong dịch vụ khách hàng Như vậy nhà kinh doanh dịch vụ cần nhận thức được vai trò khách hàng. Khách hàng vừa tạo ra cơ hội, vừa đem lại thách thức cho doanh nghiệp. • Nhu cầu về dịch vụ CSKH. Trong quá trình diễn ra hoạt động mua bán hàng hoá dịch vụ, khách hàng đưa ra nhu cầu và mong muốn được đáp ứng.
Vì vậy, quyền của khách hàng trong quá trình mua bán phải được tôn trọng và đảm bảo.