CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KHÁCH HÀNG TRONG KINH DOANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ 1.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI, KHÁI NIỆM BẢO HIỂM NHÂN THỌ.1 Sự hình thành và phát triển của bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại trên thế giới đã có lịch sử phát triển lâu đời. Mẫm mống của ra đời và sự phát triển của nó đã ghi dấu ấn đáng chú ý như: - Ai Cập (Khoảng hơn 2500 năm trước công nguyên) những người thợ đẽo đá đã biết thiết lập quỹ tương trợ để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. - Babylone (Khoảng 1700 năm trước công nguyên) và Athenes (Khoảng 500 năm trước công nguyên) xuất hiện hệ thống vay mượn với lãi xuất rất cao (có khi lên đến 400%) phục vụ cho việc buôn bán và vận chuyển hàng hóa – Hình thức cho vay với “Mạo hiểm lớn”.
Điểm đáng chú ý ở quan hệ vay mượn là nếu hàng hóa gặp rủi ro, tổn thất thì người vay không phải trả khoản tiền đã vay. Thực chất đó là một sự kết hợp giữa hoạt động vay mượn và ý đồ bảo hiểm. - Rome: Hệ thống cho vay dựa trên những điều kiện tương tự đã được thiết lập, lãi suất tối đa lên đến 50%. Tuy nhiên quan hệ vay mượn đó bị lạm dụng và sau này đã bị cấm như một hình thức cho vay nặng lại.
Từ đó dần dần hình thành một hệ thống mới: Các nhóm nhà buôn chấp nhận trả một khoản tiền nhất định, để được đảm bảo giá trị tàu thuyền và hàng hóa chuyên chở. Vào thế kỷ 14, những thỏa thuận bảo hiểm đầu tiên xuất hiện gắn liền với hoạt động giao lưu, buôn bán hàng hóa bằng đường biển đã rất phát triển Học viên: Phan Ngọc Định -5- Khoa Kinh tế và Quản lý Khoá 2007 - 2009 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội vào thời kỳ đó. Bản hợp đồng cổ nhất còn được lưu giữ đến ngày nay được phát hành tại Genes – Italia vào năm 1347 Những thỏa thuận bảo hiểm trong lĩnh vực hàng hải đó có nội dung cơ bản là: Một bên nhà buôn, chủ tàu chấp nhận trả một khoản tiền nhất định, nếu hàng hóa, tàu thuyền không đến được nơi giao hàng thì bên kia (nhà bảo hiểm) trả cho họ một khoản tiền phù hợp. Những thỏa thuận đó đã chính thức đánh dấu cho sự khởi đầu của bảo hiểm thương mại.
Kể từ thời điểm đó trong xã hội đã xuất hiện các tổ chức bảo hiểm (Công ty bảo hiểm đầu tiên của nghành vận tải biển và đường bộ được thành lập năm 1424 tại Genes) Sau sự ra đời của bảo hiểm hằng hải lần lượt ra đời của các hình thức bảo hiểm khác nhu: - Bảo hiểm hỏa hoạn: Năm 1666 vụ hỏa hoạn ở London kéo dài trong 4 ngày thiêu cháy 1300 nóc nhà, trong đó có đến 87 nhà thờ. Bảo hiểm hỏa hoạn ra đời sau sự cố đó. - Bảo hiểm nhân thọ và các Công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên cũng ra đời từ Anh quốc vào năm 1972. Cuối thế kỷ thứ 19, cùng với sự phát triển của sản xuất đại công nghiệp cơ khí, hàng loạt nghiệp vụ bảo hiểm đã xuất hiện và phát triển rất nhanh: Bảo hiểm ôtô, máy bay, trách nhiệm dân sự… Ngày nay bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội.
Nghành bảo hiểm thương mại đang giữ một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển.1 CƠ CẤU PHÍ BHNT CỦA NĂM THỊ TRƯỜNG LỚN NHẤT THẾ GIỚI NĂM 1993 (Nguồn: Giáo trình bảo hiểm – GS.PTS Hồ Xuân Phương) Tên nước Tổng doanh thu phí bảo hiểm Nhân thọ Phi nhân thọ (triệu USD) 1.570 Học viên: Phan Ngọc Định -6- Khoa Kinh tế và Quản lý Khoá 2007 - 2009 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1.2 Khái niệm về Bảo hiểm nhân thọ. - Định nghĩa bảo hiểm nhân thọ trên phương diện pháp lý: Bảo hiểm nhân thọ là bản hợp đồng trong đó để nhận được phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm (người ký kết hợp đồng), người bảo hiểm cam kết sẽ trả cho một hoặc nhiều người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền nhất định (số tiền bảo hiểm hoặc một khoản trợ cấp định kỳ) trong trường hợp người được bảo hiểm bị tử vong hoặc người được bảo hiểm sống đến một thời điểm ghi trong hợp đồng. - Định nghĩa bảo hiểm trên phương diện kỹ thuật: Bảo hiểm nhân tho là nghiệp vụ bao hàm những cam kết, mà sự thi hành những cam kết này phụ thuộc vào tuổi thọ của con người. Dù định nghĩa bảo hiểm nhân thọ trên góc độ nào thì nó cũng thể hiện rõ nét là loại bảo hiểm phụ thuộc vào tuổi thọ của con người.
Cách định nghĩa thứ nhất cho thấy trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số lượng người mà có thể gắn với các nghĩa vụ hoặc quyền lợi là bốn loại người: người bảo hiểm, người ký kết (người tham gia bảo hiểm), người được bảo hiểm, người thụ hưởng bảo hiểm. Thực tế người ta nhận thấy rằng, khi người bảo hiểm cam kết, có nghĩa là anh ta dứt khoát phải gắn bó với hợp đồng. Còn người tham gia bảo hiểm không nhất thiết phải trả phí bảo hiểm liên tục cho đến trọn nghĩa vụ, anh ta có thể ngừng trả phí khi anh ta muốn. Sự mềm dẻo này là dựa trên việc pháp luật cho phép, có căn cứ vào các nguồn thu nhập và hoàn cảnh gia đình của người được bảo hiểm có thể thay đổi, trong khi thời hạn các hợp đồng bảo hiểm là rất dài.
Đây là một ngoại lệ của hoạt động bảo hiểm. Đặc trưng của Bảo hiểm nhân thọ - Tính đa mục đích của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ: Trong khi tất cả các loại bảo hiểm phi nhân thọ có một mục đích là nhằm bồi thường cho những hậu quả của một sự cố, thì bảo hiểm nhân thọ có Học viên: Phan Ngọc Định -7- Khoa Kinh tế và Quản lý Khoá 2007 - 2009 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội thể có rất nhiều mục đích. Từng loại hợp đồng bảo hiểm nhân thọ sẽ đáp ứng một nhu cầu nhất định. Chẳng hạn như hợp đồng bảo hiểm hưu trí lập ra các khoản tiền hưu cho người được bảo hiểm; hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người bảo hiểm để lại cho gia đình một số tiền bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong hoặc các hợp đồng trợ cấp sẽ lập ra một khoản trợ cấp trọn đời cho người được bảo hiểm sống đến một độ tuổi nhất định.
Ở các trường hợp đi vay vốn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là một tài sản chứng minh nguồn thu nhập hay là một tài sản thế chấp trong trường hợp người được bảo hiểm tử vong. Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu ngày cang đa dạng và phong phú của khách hàng các công ty bảo hiểm đã đưa ra những sản phẩm mà hội tụ trong nó đầy đủ các nhu cầu của khách hàng. Ví dụ: Sản phẩm bảo hiểm hỗn hợp, tiết kiệm vừa bảo hiểm trong trường hợp NĐBH chết hoặc sống đến một thời điểm nhất định trong tương lai; sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư vừa đáp ứng nhu cầu bảo hiểm của khách hàng vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn nhàn rỗi của khách hàng cùng công ty bảo hiểm đầu tư sinh lời… - Mối quan hệ giữa những người ký kết hợp đồng (NTGBH), những người được bảo hiểm và những người thụ hưởng là mối quan hệ phức tạp: Như chúng ta biết rằng, đối với những loại bảo hiểm phi nhân thọ chống lại các hậu quả của một biến cố bất lợi, người ta biết khá rõ ai là người thụ hưởng bảo hiểm. Chẳng hạn: nạn nhân trực tiếp hay gián tiếp của một sự cố.
Nhưng đối với một vài hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, điều này hoàn toàn không như vậy. Trong các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, trong trường hợp tử vong, người thụ hưởng không phải là nạn nhân của biến cố. NĐBH chết song người thụ hưởng lại là những người có mối quan hệ thân thuộc với NĐBH, ví dụ như: vợ, chồng, con cái v. Điều này làm hạn trế sự tự do của NĐBH, NĐBH không phải lúc nào cũng được tự do thay đổi người được thụ hưởng bảo hiểm.
Ngoài ra chưa kể đến tính chất của hợp đồng bảo Học viên: Phan Ngọc Định -8- Khoa Kinh tế và Quản lý Khoá 2007 - 2009 Luận văn cao học Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội hiểm nhân thọ này đôi khi dẫn đến những vụ án hình sự do các hành động phạm tội của người được thụ hưởng bảo hiểm đối với NĐBH. - Phí bảo hiểm của các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ chịu sự tác động của hai nhân tố:”Tuổi thọ con người” và “Tài chính”. Để chứng minh rõ đặc trưng này chúng ta có thể thông qua việc phân tích điển hình hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp sống. Khác với các nghiệp vụ theo kỹ thuật phân chia phải tuân theo nguyên tắc cân bằng tài chính hàng năm.
Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ trong trường hợp sống là các nghiệp vụ bảo hiểm dài hạn. Chẳng hạn NĐBH tìm cách tạo ra một STBH trong một thời gian dài, hoặc NĐBH mong muốn có thêm một khoản trợ cấp khi về hưu ở một độ tuổi nào đó 55 hoặc 60. Để có được khoản tiền này NĐBH có thể bỏ vào “con lợn nhựa”, hoặc gửi tiết kiệm vào ngân hàng. Nhưng anh ta lại ưa thích việc nhờ đến một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hơn.
Ví dụ sau đây sẽ giải thích tại sao lại xảy ra trường hợp như vậy: Ví dụ: Một người ở độ tuổi 40 muốn có 20 triệu đồng ở tuổi 60. Giả sử theo thống kê về nhân khẩu, nếu có 100 người ở tuổi 40 thì trung bình sẽ có 85 người còn sống đến tuổi 60. Người ta nói rằng xác xuất của những người 40 ở tuổi 60 là 85%. Với giả thiết này chúng ta sẽ xem xét sự tác động của các nhân tố “tuổi thọ con người” và “tài chính” như thế nào + Tác động của nhân tố “tuổi thọ con người”: Nếu người bảo hiểm cam kết với 100 người NĐBH ở tuổi 40.
Thì số tiền trung bình mà người bảo hiểm phải có để thanh toán cho những người đến tuổi 60 là: 85 x 20 trđ = 1.700 trđ Bởi vì người bảo hiểm phải trả 20tr cho mỗi NĐBH còn sống đến tuổi 60, và số lượng người này tính theo xác xuất là 85.