LỜI MỞ ĐẦU: Lí do chọn đề tài: NHTMCP Công Thương Việt Nam có chức năng kinh doanh nhiều loại hình dịch vụ, cung cấp đầy đủ các loại hình dịch vụ cho các cá nhân, đơn vị thuộc mọi thành phần kinh tế. Trong các loại hình dịch vụ, hoạt động tín dụng, huy động vốn mang lại nguồn thu chủ yếu cho NHTMCP Công Thương Việt Nam (chiếm đến 90% thu nhập). Cùng với xu thế hội nhập quốc tế, ngành ngân hàng Việt Nam trong đó có NHTMCP Công Thương Việt Nam cần tăng cường hợp tác để để phát triển sản phẩm và dịch vụ. Góp phần chung vào việc phát triển nền kinh tế.
Nhận thấy sự cần thiết và tầm quan trọng của việc phát triển, mở rộng hoạt động kinh doanh dịch vụ trong nền kinh tế hiện nay. Em quyết định nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (Vietinbank)”. Vấn đề nghiên cứu: Vấn đề thứ nhất, nghiên cứu lý luận tổng quan về việc mở rộng và phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ của hệ thống ngân hàng thương mại. Để từ đó thấy được sự cần thiết, lợi ích, cũng như những rủi ro từ việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ đem lại cho ngân hàng.
Vấn đề thứ hai, nghiên cứu về thực trạng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tại NHTMCP Công Thương Việt Nam giai đoạn 2009 – 2011. Trên cơ sở đó đưa ra kiến nghị, giải pháp cho Vietinbank để từ đó giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ. Phƣơng pháp nghiên cứu: Các mục tiêu cụ thể - Các câu hỏi nghiên cứu: Các mục tiêu cụ thể: Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ tại NHTMCP Công Thương Việt Nam giai đoạn 2009 - 2011. Từ đó, đưa ra những kiến nghị phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của ngân hàng.
Các câu hỏi nghiên cứu: Để đáp ứng được mục tiêu chính đã đưa ra ở trên, đề tài cần phải giải quyết được các vấn đề sau: Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tại hệ thống ngân hàng thương mại là gì? 1 Tại sao phải nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh dịch vụ tại ngân hàng? Việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tại NHTMCP Công Thương Việt Nam trong giai đoạn 2009 – 2011 có được thực hiện không? Việc nâng cao hiệu quả này đã đem lại lợi ích gì cho ngân hàng? Giải pháp nào cần phải có để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tại NHTMCP Công Thương Việt Nam? Cơ sở khoa học để nghiên cứu: Dựa trên nền tảng lý thuyết đã học kết hợp với các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp: Các bộ phận dịch vụ của NHTMCP Công Thương Việt Nam sẽ được phân tích thành các bộ phận riêng biệt, vận dụng phương pháp đánh giá tổng hợp để có thể nhìn nhận đầy đủ về tình hình hoạt động chung và nêu ra các điểm mạnh và điểm yếu. Phương pháp so sánh đối chiếu: đối chiếu giữa lý luận và thực tiễn để tìm ra và giải quyết những khó khăn thách thức. Ngoài ra đề tài còn vận dụng phương pháp thống kê, thu thập và phân tích số liệu để làm rõ những nội dung liên quan. Phạm vi nghiên cứu và thu thập dữ liệu: Đề tài được thực hiện trong bối cảnh các ngân hàng mong muốn đẩy mạnh việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh và tích cực tham gia vào các tổ chức thương mại trong khu vực nói riêng và thế giới nói chung.
Để minh họa rõ hơn cho vấn đề này, đề tài xin lấy NHTMCP Công Thương Việt Nam để minh họa trực tiếp. Đề tài sử dụng các phương pháp mô tả - giải thích, thống kê, so sánh đối chiếu, phương pháp tổng hợp – phân tích. Ngoài ra còn sử dụng thông tin thu thập từ internet, các văn bản pháp luật nhà nước, sách. Đặc biệt là phân tích dữ liệu dựa trên những báo cáo tài chính của NHTMCP Công Thương Việt Nam.
Trình bày báo cáo nghiên cứu: Với những vấn đề và phương pháp nghiên cứu được đưa ra một cách cụ thể ở trên, báo cáo cũng được trình bày gồm 3 chương. Chƣơng 1: Tổng luận về việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ của hệ thống Ngân hàng thương mại 2 Chƣơng 2: Tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ của NHTMCP Công thương Việt Nam năm 2009 – 2011. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tại NHTMCP Công thương Việt Nam. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về các dịch vụ ngân hàng 1.
Khái niệm về dịch vụ ngân hàng Dịch vụ ngân hàng là các loại sản phẩm mà ngân hàng cung cấp cho các khách hàng của mình (cá nhân và tổ chức). Dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư. Ngoài ra khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng ngân hàng sẽ nhận được các khoản phí dịch vụ, hoa hồng. Kinh doanh dịch vụ ngân hàng, không những làm cho các ngân hàng thương mại trở thành ngân hàng đa năng mà còn qua hoạt động dịch vụ sẽ tạo ra một phần thu nhập khá lớn với chi phí thấp.
Trong thực tế, ngân hàng nào hướng vào hoạt động mở rộng kinh doanh dịch vụ thì kết quả hoạt động kinh doanh sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, chỉ những ngân hàng lớn, hiện đại, mạng lưới rộng, quan hệ đại lý với nhiều ngân hàng trong và ngoài nước. mới có khả năng và điều kiện để phát triển các loại hình dịch vụ ngân hàng.Các dịch vụ của ngân hàng thương mại không thể tách rời, độc lập nhau mà chúng có mối quan hệ hỗ tương với nhau trong quá trình kinh doanh của ngân hàng. Các hoạt động kinh doanh dịch vụ ngân hàng 1.
Dịch vụ huy động vốn Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu (bao gồm của pháp nhân và thể nhân) mà ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng. Đây là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của bất kì một NHTM nào, tính chất quan trọng của vốn huy động được thể hiện ở chỗ nó không chỉ chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng mà vì nó là tiền nhàn rỗi của xã hội được huy động và tập trung để sử dụng có hiệu quả cho các yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. Vốn huy động của ngân hàng bao gồm: Nhóm 1: Vốn huy động hoạt kỳ, bao gồm tiền gửi không kì hạn của các tổ chức kinh tế, cá nhân, tiền gửi không kì hạn của các tổ chức tín dụng khác. Chủ tài khoản được quyền 4 lập thư chuyển tiền, phát hành Séc rút tiền từ tài khoản một cách tự do, không phải báo trước.
Các đơn vị, cá nhân gửi tiền vào tài khoản này không nhằm mục đích hưởng lãi mà nhằm phục vụ nhu cầu giao dịch thanh toán cho chính mình. Vì vậy đối với loại vốn này lãi suất không phải là công cụ chính để thu hút nguồn vốn này, mà công cụ chính là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp kèm theo có đơn giản, thuận lợi an toàn và nhanh chóng kịp thời hay không. Thông thường khách hàng sẽ lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản là những ngân hàng có quy mô lớn, mạng lưới rộng khắp, có hệ thống dịch vụ ngân hàng hiện đại. Nhóm 2: Vốn huy động định kì, gồm tiền gửi định kì, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân, tổ chức, tiền phát hành kì phiếu, trái phiếu.
đặc điểm của loại nguồn vốn này là khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong điều kiện bình thường, các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn). Đối với vốn huy động định kì, người gửi tiền có mục đích xác định là hưởng lãi. Vì vậy họ sẽ chọn ngân hàng có lãi suất cao hơn, chứ không đòi hỏi hệ thống dịch vụ hiện đại như đối với nguồn vốn hoạt kì. Vì lý do đó, các ngân hàng thường sử dụng công cụ lãi suất để tập trung nguồn vốn này.
Cạnh tranh lãi suất để thu hút nguồn vốn này là cuộc cạnh tranh hợp lý và gay gắt. Việc huy động và sử dụng nguồn vốn huy động phải tuân thủ 3 nguyên tắc: Tuân thủ pháp luật trong huy động vốn: Hoàn trả gốc và lãi cho khách hàng vô điều kiện, tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành, giữ gìn bí mật số dư và hoạt động của tài khoản khách hàng. Không được che dấu các khoản tiền lớn và bất thường (thực hiện các quy định của pháp lệnh chống rửa tiền). Không được cạnh tranh bất hợp lý (thông tin giả, khuyến mãi bất hợp pháp.
Thỏa mãn yêu cầu kinh doanh với chi phí thấp nhất: Áp dụng nhiều phương thức huy động vốn, kết hợp chặt chẽ giữa huy động vốn với hiện đại hóa dịch vụ ngân hàng. Và đa dạng hóa phương thức trả lãi đi đôi với dự thưởng để thu hút khách hàng. Ngăn ngừa sự giảm sút bất thường của nguồn vốn huy động: Tạo uy tín cho ngân hàng bằng việc đáp ứng kịp thời đầy đủ nhu cầu rút tiền trong mọi tình huống. Các dịch vụ thanh toán, thu chi hộ khách hàng 5 Thanh toán bằng séc: Là lệnh trả tiền của chủ tài khoản được lập trên mẫu do ngân hàng nhà nước quy định, yêu cầu đơn vị thanh toán trích một số tiền từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho người thụ hưởng có tên ghi trên séc hoặc trả cho người cầm séc.
Như vậy, séc là một chi phiếu, lập trên mẫu in sẵn cho chủ tài khoản phát hành giao trực tiếp cho người bán để thanh toán tiền vật tư, hàng hóa, chi phí, dịch vụ. Những quy tắc chung trong thanh toán bằng séc: Tất cả các tờ séc đều do Ngân hàng Nhà nước thiết kế mẫu thống nhất, được in và ghi bằng tiếng Việt Nam (séc phục vụ khách nước ngoài có thể in thêm tiếng Anh dưới tiếng Việt Nam với cỡ chữ nhỏ hơn). Các tổ chức tín dụng, Kho bạc nhà nước đăng ký mẫu séc với NHNN và chỉ được in séc tại nhà in Ngân hàng. Ngân hàng, Kho bạc nhà nước.bán séc trắng cho khách hàng sử dụng, theo đúng mẫu séc đã được duyệt và chỉ bán séc cho khách hàng nào có mở tài khoản tại đơn vị mình.