Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khu ký túc xá Trường Bia - Đại học Huế" được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Viết Nghĩa (Lớp K47 - Thống kê kinh doanh, Khoa Hệ thống thông tin kinh tế, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế) dưới sự hướng dẫn của TS. Phan Thị Thu Hương vào tháng 5 năm 2017.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sang ngành dịch vụ và chủ trương giáo dục đại học hướng tới phát triển con người toàn diện, các dịch vụ hỗ trợ sinh viên tại các trường đại học đóng vai trò ngày càng quan trọng. Trong đó, dịch vụ ký túc xá (KTX) là dịch vụ hỗ trợ thiết yếu, tác động gián tiếp nhưng rõ nét đến chất lượng sinh hoạt và hiệu quả học tập của người học, đặc biệt là nhóm sinh viên ngoại tỉnh sống xa gia đình.
Vấn đề thực tiễn nổi cộm được tác giả chỉ ra là sự mâu thuẫn giữa công suất thiết kế và tỷ lệ khai thác thực tế tại KTX Trường Bia. Dù là khu KTX có quy mô xây dựng lớn nhất trong hệ thống Đại học Huế với sức chứa thiết kế 3.848 chỗ ở, nhưng theo báo cáo tình hình hoạt động tính đến ngày 15/01/2017, số lượng sinh viên nội trú đăng ký chỉ đạt 1.781 người (chiếm chưa đầy 50% công suất). Tình trạng dư thừa hàng nghìn chỗ ở diễn ra song song với thực tế nhiều sinh viên phải tìm thuê phòng trọ tư nhân bên ngoài với chi phí đắt đỏ. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải khảo sát, đo lường sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng các dịch vụ đang cung cấp, nhằm tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp cải thiện năng lực thu hút của KTX.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể:
- Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khu KTX Trường Bia – Đại học Huế.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của sinh viên.
- Đánh giá sự hài lòng của sinh viên đối với chất lượng dịch vụ tại KTX Trường Bia – Đại học Huế.
- Đề xuất các giải pháp nhằm gia tăng mức độ hài lòng của sinh viên đối với KTX Trường Bia – Đại học Huế trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề liên quan đến chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ của khu KTX Trường Bia.
- Đối tượng khảo sát: Sinh viên đang sinh sống và sinh hoạt nội trú tại khu KTX Trường Bia – Đại học Huế.
- Phạm vi không gian: Khu KTX Trường Bia – Đại học Huế (Địa chỉ: Số 01, đường Nguyễn Khánh Toàn, phường An Cựu, thành phố Huế).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2014 – 2016; dữ liệu sơ cấp được điều tra, khảo sát thực tế từ tháng 3/2017 đến tháng 4/2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, tác giả tổng hợp khái niệm KTX từ góc độ chiết tự ("Ký" - ở nhờ; "Túc" - nghỉ lại; "Xá" - nhà tập thể) và định nghĩa theo chuẩn quốc tế ("Dormitory" / "Dorm"). Khái niệm chất lượng dịch vụ được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn TCVN ISO 1009-2000 và định nghĩa của Feigenbaum (1991), kết hợp cùng 5 đặc tính chất lượng dịch vụ do Đỗ Tiến Hòa (2007) xác định: tính vượt trội (transcendent), tính đặc trưng (specific), tính thỏa mãn nhu cầu (satisfiable), tính cung ứng (supplyled) và tính tạo ra giá trị (valueled).
Lý thuyết về sự hài lòng và mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng được tác giả kế thừa từ:
- Mô hình thỏa mãn của Oliver (1980) với ba mức độ: rất hài lòng, hài lòng và không hài lòng.
- Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (ACSI) với cấu trúc tác động từ sự mong đợi, chất lượng cảm nhận, giá trị cảm nhận đến sự hài lòng, sự trung thành và sự than phiền.
- Mô hình thỏa mãn theo chức năng và mối quan hệ của Parasuraman (1994).
- Mối quan hệ tương hỗ và tiền đề giữa chất lượng dịch vụ đối với sự hài lòng của Cronin & Taylor (1992), Ahmad & Kamal (2002), Spreng & Mackop (1996).
- Lược khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến dịch vụ KTX và cơ sở vật chất đại học của Đặng Ngọc Hà (2015), Nguyễn Thị Thùy Giang (2012), Ma Cẩm Tường Lam (2011), Lê Thanh Hà (2012), Nguyễn Thị Kim Báu (2012), Vũ Thị Trâm (2015).
Từ khung lý thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 nhóm nhân tố độc lập tác động trực tiếp đến 1 biến phụ thuộc là "Sự hài lòng của sinh viên":
- Giá cả (GC)
- Phương tiện hữu hình (PTHH)
- Năng lực phục vụ (NLPV)
- Sự tin cậy (STC)
- Khả năng đáp ứng (KNDU)
- Sự cảm thông (SCT)
Hệ thống thang đo được thiết kế bằng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý), ban đầu bao gồm 26 biến quan sát cho các nhân tố độc lập và 3 biến quan sát cho nhân tố sự hài lòng (tổng cộng 29 biến quan sát).
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo từng dãy nhà nội trú. Cỡ mẫu tối thiểu được tính toán dựa trên quy tắc gấp 5 lần số biến quan sát (29 × 5 = 145 mẫu) theo Nguyễn Đình Thọ & Hoàng Thị Mai Trang (2009) và quy tắc phân tích hồi quy $n \ge 8m + 50$ ($8 \times 7 + 50 = 106$ mẫu) theo Tabachnick & Fidell (1991). Tác giả phát ra 260 bảng hỏi, thu về 260 phiếu; sau khi sàng lọc đã loại bỏ 10 phiếu không hợp lệ, giữ lại 250 mẫu hợp lệ đưa vào phân tích thống kê.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các báo cáo thống kê của Phòng Tổ chức – Hành chính, Phòng Quản trị cơ sở vật chất thuộc KTX Trường Bia và Trung tâm Phục vụ Sinh viên – Đại học Huế; dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát bảng hỏi trực tiếp sinh viên nội trú.
- Phương pháp phân tích và công cụ xử lý: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS và Microsoft Excel để tiến hành thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (điều kiện chấp nhận: Alpha $\ge 0,6$ và hệ số tương quan biến tổng Corrected Item-Total Correlation $\ge 0,3$), phân tích nhân tố khám phá EFA (phương pháp trích Principal Axis Factoring, phép xoay vuông góc Varimax, kiểm định KMO $\ge 0,5$, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê Sig. $< 0,05$, hệ số Eigenvalue $> 1$, tổng phương sai trích $> 50%$, hệ số tải nhân tố Factor Loading $\ge 0,5$), phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp Enter.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chất lượng dịch vụ KTX Trường Bia
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ đề tài:
- Trình bày khái niệm, đặc điểm vận hành của KTX sinh viên; hệ thống hóa các lý thuyết về chất lượng dịch vụ, chỉ số hài lòng khách hàng ACSI và mô hình của Parasuraman (1994).
- Phân tích cơ sở thực tiễn: Tính đến tháng 7/2014, cả nước có 472 trường đại học, cao đẳng kéo theo nhu cầu nhà ở sinh viên tăng cao. Riêng Đại học Huế tuyển sinh khoảng 12.000 sinh viên mỗi năm, với 50% là sinh viên ngoại tỉnh xa nhà. Đại học Huế đã xây dựng 10 khu KTX gồm: Đội Cung, Tây Lộc, Đống Đa, Trường Bia, Y Dược, Lưu Học Sinh, CĐ Y tế, CĐ Công nghiệp, ĐH Phú Xuân, CĐ Sư phạm. Dù quy mô phòng ở lớn nhưng tình trạng sinh viên không mặn mà với KTX vẫn phổ biến.
- Thiết lập mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 6 nhân tố độc lập (26 biến quan sát) và nhân tố sự hài lòng (3 biến quan sát). Các biến quan sát được mã hóa cụ thể để đo lường các khía cạnh: mức giá phòng, giá điện nước, giá dịch vụ căng tin, an ninh, phòng cháy chữa cháy, thái độ của Ban quản lý (BQL), diện tích phòng, sân thể thao và cảnh quan khuôn viên.
Chương 2: Phân tích sự hài lòng của sinh viên về chất lượng dịch vụ của ký túc xá
Chương 2 phản ánh chi tiết hiện trạng hạ tầng, nhân lực, công tác vận hành KTX Trường Bia và báo cáo kết quả xử lý dữ liệu điều tra định lượng:
- Quá trình hình thành và quy mô: Thành lập ngày 14/09/2009 tại số 01 Nguyễn Khánh Toàn, phường An Cựu, TP. Huế, trực thuộc Trung tâm Phục vụ Sinh viên – Đại học Huế. KTX gồm 2 phân khu A và B với 9 dãy nhà (7 dãy 5 tầng gồm A2, A3, A4, A5, A6, B1, B2; 2 dãy 4 tầng gồm A1 và nhà Lào). Tổng diện tích sàn đạt 28.854 m², gồm 436 phòng, cung ứng 3.848 chỗ ở theo thiết kế chuẩn (8 người/phòng).
- Cơ sở hạ tầng phụ trợ: 2 phòng tự học (có 1 phòng học nhóm), 1 phòng câu lạc bộ, 4 nhà giữ xe cấp 4, cụm sân chơi thể thao (3 sân bóng chuyền, 2 sân cầu lông, xà đơn, xà kép, xà lệch), 2 phòng internet và 1 nhà khách lưu trú cho người nhà sinh viên.
- Cơ cấu nhân sự năm 2016: Tổng cộng 38 cán bộ, công nhân viên (20 nam - 52,63%; 18 nữ - 47,37%). Trình độ chuyên môn: Đại học và trên đại học có 16 người (42,11%); cao đẳng, trung cấp có 8 người (21,05%); lao động phổ thông có 14 người (36,84%).
- Tình hình sinh viên nội trú qua các giai đoạn:
- Biến động 3 học kỳ: Học kỳ I năm học 2014-2015 có 1.754 SV; học kỳ II năm học 2014-2015 đạt 1.767 SV (tăng 13 SV, tương ứng tăng 0,74%); học kỳ I năm học 2015-2016 đạt 1.836 SV (tăng 69 SV, tương ứng tăng 3,90%).
- Hiện trạng tại thời điểm 15/01/2017: Tổng số 1.781 sinh viên nội trú. Nữ chiếm ưu thế với 1.031 người (57,89%), nam có 750 người (42,11%). Sinh viên ngoại tỉnh chiếm 81,71%, sinh viên có hộ khẩu Thừa Thiên Huế chiếm 18,29% (322 người). Phân bố theo đơn vị đào tạo tập trung lớn nhất ở ba trường lân cận: ĐH Ngoại ngữ 583 SV (32,73%), ĐH Luật 521 SV (29,25%), ĐH Kinh tế 452 SV (25,38%); các trường còn lại (Khoa học, GDTC, Y Dược, Nông Lâm, Du lịch...) chiếm tỷ lệ nhỏ. Phân bố theo năm học: Sinh viên năm thứ nhất chiếm 28,69% (511 SV), năm thứ hai chiếm 24,59% (438 SV), năm thứ ba chiếm 23,19% (413 SV), năm thứ tư chiếm 22,96%, còn sinh viên năm thứ năm và thứ sáu chiếm tỷ lệ rất thấp.
| Chỉ tiêu cơ sở vật chất KTX tại ĐHH |
KTX Trường Bia |
KTX Tây Lộc |
KTX Đống Đa |
KTX Đội Cung |
| Công suất thiết kế (chỗ) |
3.848 |
500 |
410 |
580 |
| Số lượng phòng (phòng) |
436 |
62 |
34 |
72 |
| Cơ cấu phòng thiết kế (người/phòng) |
8 |
8 |
12 |
8 |
| Mức giá bình quân (đồng/người/tháng) |
170.000 |
100.000 |
70.000 |
70.000 |
| Mức giá phòng 8 người (đồng/tháng) |
80.000 |
75.000 |
- |
70.000 |
| Mức giá phòng 4 người (đồng/tháng) |
200.000 |
150.000 |
- |
- |
| Mức giá phòng 2 người (đồng/tháng) |
400.000 |
- |
- |
- |
-
Đặc điểm mẫu khảo sát thực tế (250 sinh viên):
- Giới tính: 137 nữ (54,8%), 113 nam (45,2%).
- Trường theo học: ĐH Ngoại ngữ 31,2% (78 SV), ĐH Luật 30,0% (72 SV), ĐH Kinh tế 28,8% (32 SV được ghi nhận trong mẫu phân tổ), các trường khác chiếm 7,0%.
- Năm học: Sinh viên năm thứ hai chiếm tỷ trọng cao nhất với 28%, năm 5 và năm 6 chiếm khoảng 1%.
- Mức trợ cấp sinh hoạt từ gia đình mỗi tháng: Nhóm nhận 1 – 2 triệu đồng chiếm tỷ trọng cao nhất với 58,4%; nhóm 2 – 3 triệu đồng chiếm 23,6%; nhóm trên 4 triệu đồng chỉ chiếm 0,8%.
-
Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha):
- Thang đo "Giá cả" (4 biến quan sát): Cronbach's Alpha = 0,837; các hệ số tương quan biến tổng từ 0,549 đến 0,771.
- Thang đo "Phương tiện hữu hình" (7 biến quan sát): Cronbach's Alpha = 0,838; tương quan biến tổng từ 0,475 đến 0,640.
- Thang đo "Sự tin cậy" (4 biến quan sát): Cronbach's Alpha = 0,844; tương quan biến tổng từ 0,632 đến 0,750.
- Thang đo "Năng lực phục vụ" (4 biến quan sát): Cronbach's Alpha = 0,796; tương quan biến tổng từ 0,443 đến 0,792.
- Thang đo "Khả năng đáp ứng": Tại lần kiểm định 1 (3 biến), hệ số Alpha đạt 0,716 nhưng biến "Nơi giữ xe an toàn rộng rãi đáp ứng nhu cầu sinh viên" có tương quan biến tổng bằng 0,250 (< 0,3) nên bị loại. Kiểm định lần 2 cho 2 biến còn lại đạt hệ số Alpha = 0,979, tương quan biến tổng đạt 0,963.
- Thang đo "Sự cảm thông" (4 biến quan sát): Cronbach's Alpha = 0,807; tương quan biến tổng từ 0,592 đến 0,654.
- Thang đo "Sự hài lòng" (3 biến quan sát): Cronbach's Alpha = 0,851; tương quan biến tổng từ 0,712 đến 0,739.
-
Phân tích nhân tố khám phá (EFA):
- Kiểm định thích hợp mẫu: Hệ số KMO = 0,851; kiểm định Bartlett đạt giá trị kiểm định Chi-Square = 3.886E3 với bậc tự do Df = 253, mức ý nghĩa Sig. = 0,000 (< 0,05).
- EFA biến độc lập lần 1 (25 biến quan sát): Trích được 6 nhân tố tại điểm dừng Eigenvalue = 1,066, tổng phương sai trích đạt 66,991%. Hai biến quan sát bị loại bỏ do có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5 gồm: "Phòng tự học đảm bảo đủ diện tích và số lượng bàn ghế đáp ứng nhu cầu học tập cho sinh viên" và "Phòng đạt yêu cầu về diện tích, ánh sáng, độ ẩm, độ thông thoáng".
- EFA biến độc lập lần 2 (23 biến quan sát): Hệ số KMO = 0,851, Sig. = 0,000; trích được 6 nhân tố với Eigenvalue = 1,052, tổng phương sai trích đạt 69,619% (> 50%). Toàn bộ 23 biến quan sát đều có hệ số tải nhân tố lớn hơn 0,5 (dao động từ 0,551 đến 0,921).
- EFA biến phụ thuộc (3 biến sự hài lòng): Hệ số KMO = 0,731; kiểm định Bartlett có Sig. = 0,000; trích được 1 nhân tố tại Eigenvalue = 2,313; tổng phương sai trích đạt 77,113% (> 50%); hệ số tải của 3 biến đạt từ 0,872 đến 0,888.
Chương 3: Định hướng, giải pháp đề xuất nâng cao chất lượng dịch vụ khu KTX Trường Bia – Đại học Huế
Từ kết quả thống kê mô tả và mô hình phân tích định lượng, tác giả xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp can thiệp có trọng tâm:
- Định hướng: Tận dụng tối đa quy mô cơ sở vật chất sẵn có, thu hẹp khoảng cách giữa chất lượng thực tế và kỳ vọng của sinh viên, từng bước lấp đầy công suất phòng trống.
- Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất và phương tiện hữu hình: Cải tạo, sửa chữa hệ thống cấp thoát nước, bảo dưỡng thiết bị điện, nâng cấp các công trình vệ sinh và bãi phơi đồ; nâng cấp không gian phòng tự học đáp ứng nhu cầu tự học và học nhóm của sinh viên.
- Nhóm giải pháp về khả năng đáp ứng và giá cả: Đa dạng hóa các gói dịch vụ cơ cấu phòng ở (phòng 2, 4, 6, 8 người) kèm mức giá thuê linh hoạt; giám sát chặt chẽ biểu giá điện, nước sinh hoạt và mức giá niêm yết tại căng tin, quầy tạp hóa trong khuôn viên KTX nhằm tránh việc bán giá cao hơn thị trường bên ngoài; nâng cấp diện tích và quy trình giữ xe an toàn.
- Nhóm giải pháp về năng lực phục vụ và sự cảm thông: Đào tạo nâng cao kỹ năng ứng xử, tác phong giao tiếp thân thiện, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý dãy nhà và nhân viên bảo vệ; tổ chức định kỳ các buổi đối thoại giữa Ban quản lý và sinh viên nội trú; ban hành các chính sách hỗ trợ thiết thực cho sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu định lượng cung cấp các số liệu thực chứng cụ thể về thực trạng vận hành và mức độ đánh giá của sinh viên đối với dịch vụ KTX Trường Bia:
- Xác nhận độ tin cậy và giá trị hội tụ của thang đo: Sau 2 lần kiểm định Cronbach's Alpha và 2 lần xoay nhân tố EFA, nghiên cứu đã rút gọn từ 26 biến độc lập ban đầu xuống còn 23 biến quan sát đặc trưng, phân tách thành 6 nhóm nhân tố rõ rệt giải thích 69,619% phương sai dữ liệu mẫu.
- Chỉ ra các điểm hạn chế kỹ thuật: Biến "Nơi giữ xe an toàn rộng rãi" không đạt độ tương quan nội bộ (Item-Total = 0,250), phản ánh sự không đồng đều hoặc bất cập trong công tác trông giữ xe. Đồng thời, 2 biến về "Phòng tự học" và "Yêu cầu phòng ở về diện tích, ánh sáng, độ ẩm" có hệ số tải nhỏ hơn 0,5, chứng minh các tiêu chí này chưa thực sự đồng nhất với các phương tiện hữu hình cốt lõi khác trong cảm nhận của sinh viên.
- Làm rõ cấu trúc phân bổ người ở: 81,71% sinh viên nội trú là người ngoại tỉnh; 58,4% có mức trợ cấp gia đình từ 1 đến 2 triệu đồng/tháng. Mức giá phòng bình quân tại KTX Trường Bia là 170.000 đồng/người/tháng, cao hơn đáng kể so với KTX Tây Lộc (100.000 đồng), KTX Đống Đa (70.000 đồng) và KTX Đội Cung (70.000 đồng).
Về mặt đóng góp:
- Về lý luận: Khóa luận vận dụng thành công mô hình Parasuraman và chỉ số ACSI vào lĩnh vực dịch vụ công ích đào tạo tại địa bàn miền Trung; kiểm định bộ thang đo đánh giá chất lượng dịch vụ KTX sinh viên với các chỉ số thống kê chuẩn mực.
- Về thực tiễn: Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực cho Ban Giám đốc Trung tâm Phục vụ Sinh viên – Đại học Huế và Ban quản lý KTX Trường Bia nhận diện nguyên nhân tỷ lệ lấp đầy thấp (chỉ đạt 1.781/3.848 chỗ tại thời điểm khảo sát), từ đó xây dựng kế hoạch điều chỉnh giá phòng, nâng cấp hạ tầng sinh hoạt và cải tiến thái độ phục vụ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số giới hạn thực tiễn trong quá trình thực hiện:
- Hạn chế về phạm vi và mẫu khảo sát: Nghiên cứu được triển khai trên cỡ mẫu 250 sinh viên nội trú tại một địa bàn duy nhất là KTX Trường Bia, chưa thực hiện khảo sát đối chứng trên nhóm sinh viên đang thuê trọ bên ngoài (sinh viên ngoại trú) để tìm hiểu sâu căn nguyên vì sao nhóm này không lựa chọn đăng ký KTX.
- Hạn chế về thời gian: Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian ngắn (tháng 3 đến tháng 4 năm 2017), mang tính thời điểm và chưa theo dõi được biến động nhu cầu chỗ ở xuyên suốt các đợt tiếp nhận tân sinh viên đầu năm học.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng phạm vi khảo sát sang các đối tượng sinh viên ngoại trú thuộc Đại học Huế; mở rộng phạm vi không gian sang các khu KTX khác (như Tây Lộc, Đội Cung, Đống Đa) để thực hiện các phân tích so sánh đa nhóm; ứng dụng thêm các mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm tra sâu hơn các mối quan hệ tác động gián tiếp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo học thuật rõ ràng:
- Đối với sinh viên và học viên: Là tài liệu tham khảo chi tiết cho sinh viên các ngành Hệ thống thông tin kinh tế, Thống kê kinh doanh, Quản trị kinh doanh và Kinh tế dịch vụ. Khóa luận cung cấp quy trình nghiên cứu định lượng mẫu mực, từ khâu thiết kế bảng hỏi, kiểm định Cronbach's Alpha hai bước, phân tích nhân tố khám phá EFA hai lần đến xử lý dữ liệu bằng SPSS.
- Đối với công tác quản lý: Cung cấp bức tranh thực trạng về hạ tầng, cơ cấu chi phí, mức giá phòng và đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên nội trú cho Ban quản lý các KTX, Trung tâm Phục vụ Sinh viên và Ban Giám đốc Đại học Huế, hỗ trợ việc hoạch định chính sách giá và kế hoạch tu bổ cơ sở vật chất.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ lấp đầy chỗ ở của KTX Trường Bia tại thời điểm đầu năm 2017 là bao nhiêu?
Tính đến ngày 15/01/2017, KTX Trường Bia ghi nhận 1.781 sinh viên đăng ký nội trú trên tổng công suất thiết kế là 3.848 chỗ ở, đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 46,28%, còn trống hơn 2.000 chỗ ở.
Cơ cấu phòng ở và mức giá thuê tại KTX Trường Bia khác biệt thế nào so với các KTX khác thuộc Đại học Huế?
KTX Trường Bia có mức giá phòng bình quân là 170.000 đồng/người/tháng, cao hơn KTX Tây Lộc (100.000 đồng), KTX Đống Đa (70.000 đồng) và KTX Đội Cung (70.000 đồng). KTX Trường Bia phân hóa nhiều mức giá linh hoạt theo số người trong phòng: phòng 8 người có giá 80.000 đồng, phòng 6 người là 140.000 đồng, phòng 4 người là 200.000 đồng, phòng 3 người là 270.000 đồng và phòng 2 người là 400.000 đồng/người/tháng (chưa bao gồm chi phí điện nước phát sinh từ 50.000 đến 100.000 đồng/tháng).
Những biến quan sát nào đã bị loại bỏ trong quá trình kiểm định thống kê?
Trong phân tích Cronbach's Alpha, biến "Nơi giữ xe an toàn rộng rãi đáp ứng nhu cầu sinh viên" thuộc nhân tố Khả năng đáp ứng bị loại do hệ số tương quan biến tổng chỉ đạt 0,250 (< 0,3). Trong phân tích EFA lần 1, có 2 biến thuộc nhân tố Phương tiện hữu hình bị loại do hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5 gồm: "Phòng tự học đảm bảo đủ diện tích và số lượng bàn ghế đáp ứng nhu cầu học tập cho sinh viên" và "Phòng đạt yêu cầu về diện tích, ánh sáng, độ ẩm, độ thông thoáng".
Sinh viên nội trú tại KTX Trường Bia chủ yếu đến từ các trường nào và có mức hỗ trợ kinh tế ra sao?
Sinh viên nội trú tập trung đông nhất ở 3 trường lân cận gồm ĐH Ngoại ngữ (32,73%), ĐH Luật (29,25%) và ĐH Kinh tế (25,38%). Về điều kiện kinh tế, có tới 58,4% sinh viên được khảo sát nhận mức trợ cấp sinh hoạt hàng tháng từ gia đình ở mức thấp, dao động từ 1 đến 2 triệu đồng.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Nguyễn Viết Nghĩa đã giải quyết hoàn chỉnh mục tiêu nghiên cứu thông qua việc kết hợp hệ thống lý luận quản trị chất lượng dịch vụ với phương pháp định lượng thực nghiệm tại KTX Trường Bia – Đại học Huế. Tác giả đã chỉ ra nghịch lý dư thừa hơn 50% công suất thiết kế tại một khu KTX quy mô lớn và phân tích thực trạng đánh giá của sinh viên trên 6 nhóm nhân tố chất lượng dịch vụ. Các phân tích kiểm định thống kê Cronbach's Alpha và EFA đã thanh lọc các biến quan sát không đạt chuẩn, cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc để đề xuất hệ thống giải pháp điều chỉnh mức giá, cải tạo hạ tầng và nâng cao thái độ phục vụ của ban quản lý. Công trình đóng vai trò là một tài liệu tham khảo học thuật hữu ích cho sinh viên khối ngành kinh tế và cung cấp dữ liệu thực tiễn giá trị cho các nhà quản lý ký túc xá đại học.