CHƯƠNG I1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÁT LƯỢNG DỊCH VỤ HÀNG KHÔNG 1. Khái quát về chất lượng dịch vụ hàng không 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại dịch vụ hàng không 1.
Khái niệm, đặc điểm và phân loại dich vu a. Khái niệm dịch vụ Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ. Về cơ bản, các khái niệm đều thống nhất dịch vụ là sản phâm của lao động, là các hoạt động có ích của con người nhằm mang tới những sản phâm không tồn tại được dưới dạng hình thái vật chất, quá trình sản xuất và tiêu thụ xảy ra đồng thời, nhằm đáp ứng nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng trong đời sống xã hội. Theo đó, dịch vụ, hiểu một cách đơn giản, là kết quả của một quá trình hay một hoạt động nào đó nhưng không thể nhìn thấy được và không đo đếm được.
Theo Zeithaml va Bitner (2009), “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.” Theo Kotler va Armstrong (2004), "Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.” 'Về cơ bản, nhiều học giả co rằng dịch vụ là quy trình sản xuất và tiêu thụ với sự tham gia của khách hàng trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ các dịch vụ (Edvardson, 2005) hay là các trải nghiệm về cách thức làm hài lòng khách hàng (Tyagi và Gupta, 2008). Hay quan điểm của J. Wiliam Stanton (1994) cho rằng dịch vụ là những hoạt động vô hình có thể nhận dạng riêng biệt, về cơ bản mang lại sự thỏa mãn mong muốn và không nhất thiết phải gắn liền với việc bán một sản phẩm hoặc một dịch vụ khác. Quan điểm của Adrian Payne (1993) nhận định °dịch vụ là một hoạt động có một yếu tố vô hình gắn liền với nó và liên quan đến sự tương tác của nhà cung cấp § dịch vụ với khách hàng hoặc với tài sản thuộc về khách hàng.
Dịch vụ không liên quan đến việc chuyền giao quyền sở hữu đầu ra”. Nhiều nhà khoa học phát triển tiếp ý tưởng này và cho rằng dịch vụ là những trải nghiệm mà khách hàng nhận được trong khi thực hiện dịch vụ (Hopkins, Hopkins va Hoffman, 2005) nên cần phải đánh giá chất lượng chủ yếu từ góc độ khách hàng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luật giá năm 2012 quy định dịch vụ là một loại hàng hóa vô hình, trong đó quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Nhu vậy, về bản chất có thể hiểu dịch vụ là sản phẩm của hoạt động lao động sáng tạo của con người, không tồn tại dưới dạng vật chất và do một bên (bên cung ứng dịch vụ) cung cấp dịch vụ cho một bên khác (bên sử dụng dịch vụ) có nhu cầu.
Hoạt động cung ứng dịch vụ rất đa dạng như dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị, dich vụ ngân hàng, dịch vụ bảo hiểm, dịch vu vận tải, dịch vụ tư vấn pháp luật,. Đặc điểm dịch vụ Các học giả đều có sự thống nhất khi cho rằng dịch vụ là một dạng sản pham đặc biệt, có nhiều đặc tính phân biệt với các loại sản phẩm khác ở tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thẻ tách rời và tính không thể lưu trữ. Chính những đặc điểm này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng chính xác và khó nhận dạng. bằng các giác quan thông thường.
Theo Wilson và cộng sự (2008), dịch vụ có một số đặc điểm nỗi trội như sau: « _ Tính vô hình: khác so với sản phẩm hàng hóa hữu hình, dich vu mang tính chất vô hình, không thể cân, đong, đo, đến, cằm, nắm, ngửi, sờ thấy được. Để tăng các biểu hiện của dịch vụ, người mua sẽ tìm cách thể hiện các bằng chứng về chất lượng dịch vụ. Người mua xem xét chất lượng dịch vụ trong nhiều khía cạnh như nhân lực, máy móc, chứng từ tài liệu, các thông tin, địa điểm và giá dịch vụ. Vì dịch vụ có tính chất vô hình nên nhà cung.
cấp dịch vụ thường cảm thấy khó khăn trong việc nhận thức như thế nào về dịch vụ và đánh giá chất lượng dịch vụ (Robinson, 1999). Tính không đồng nhất: đây cũng là sự khác biệt giữa dịch vụ so với các sản phẩm hàng hóa hữu hình khác. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường. khác nhau tùy thuộc vào cách thức thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ.
Đặc điểm này thẻ hiện rõ nhất với các dịch vụ bao hàm sức lao động cao, bởi việc đòi hỏi chất lượng đồng nhất từ đội ngũ nhân viên sẽ rất khó đảm bảo (Caruana và Pitt, 1997) Tính không thể tách rời: thẻ hiện ở việc khó phân chia dịch vụ thành giai đoạn cung ứng và giai đoạn sử dụng. Quá trình cung ứng và tiêu dùng diễn ra đồng thời. Khác so với hàng hóa hữu hình, được sản xuất ra, lưu trữ, phân phối thông qua nhiều kênh trung gian, chưa chắc đã được sử dụng mà chỉ có người tiêu dùng cuối cùng mới là người sử dụng. Đối với cung ứng dịch vụ, khách hàng được thực hiện trong một quá trình hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Khi đó, chất lượng dịch vụ thể hiện trong quá trình tương tác giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ của công ty. Đối với những dịch vụ đòi hỏi phải có sự tham gia ý kiến trực tiếp của người tiêu dùng như dịch vụ chăm sóc cá nhân, khám chữa bệnh thì công ty dịch vụ rất khó thực hiện việc kiểm soát, quản trị về chất lượng vì người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến quá trình và kết quả cung cấp dịch vụ. Tính không lưu giữ được: dịch vụ không thể lưu trữ để sau đó đem bán như hàng hóa hữu hình. Khi nhu cầu ồn định, tính không lưu giữ được của dịch vụ sẽ không phải là vấn đề.
Tuy nhiên, khi nhu cầu thay đổi, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp tục vận hành hoạt động kinh doanh. Sự tham gia của khách hàng: trong quá trình cung cấp dịch vụ, khách hàng sẽ tham gia trực tiếp. Sự tham gia này yêu cầu cần quan tâm đến việc thiết kế bố trí địa điểm giao dịch, trong khi hoạt động sản xuất hàng hóa thì không cần yêu cầu này. Chất lượng của dịch vụ sẽ được nâng cao nếu mặt bằng và quy trình của cơ sở dịch vụ được thiết kế và bài trí dựa trên quan điểm của khách hàng.
Các yếu tố như trang thiết bị, bài trí bên trong, cách 10 trưng bày, âm thanh, hình ảnh và cả màu sắc bên trong có thể ảnh hưởng đến nhận thức của khach hang vé dich vu (Fitzsimmons và Fitzsimmons, 2008). Phân loại dịch vụ Dé kiém soát và cải tiến tốt hơn quá trình cung cấp dịch vụ, nhà quản trị có thể tiếp cận dịch vụ và phân loại dịch vụ ở góc độ khác nhau. s* Phân lo; vụ theo quá trình cung cấp Fitzsimmons va Fitzsimmons (2011) đã giới thiệu một ma trận quá trình dich vụ, trong đó, dịch vụ được phân loại theo hai khía cạnh ảnh hưởng đáng kể đến đặc điểm của quá trình cung cấp dịch vụ nói chung và dịch vụ bán lẻ nói riêng. Trục tung đo lường mức độ của cường độ lao động, được xác định là tỷ lệ giữa chỉ phí lao động và chỉ phí vốn.
Như vậy, các dịch vụ cơ bản chuyên sâu như dịch vụ của các hãng hàng không và bệnh viện được để ở trên do mức độ đầu tư là đáng kể cho. các công cụ và thiết bị liên quan đến chỉ phí lao động. Dich vụ sử dụng nhiều lao. động như trường học và luật sư được để ở dưới cùng vì chi phi lao động là cao so với mọi yêu cầu vốn.
Trục hoành đo lường mức độ tương tác và thích ứng với khách hàng của doanh nghiệp dịch vụ, theo đó chỉ ra sự ảnh hưởng mang tính cá nhân đến hoạt động cung ứng dịch vụ. Sự tương tác giữa khách hàng và nhà cung. cấp dịch vụ ít là cần thiết khi dịch vụ đã được tiêu chuân hóa nhiều hơn là sự điều. Mức độ tương tác và thích ứng với khách hàng Thấp Cao “Nhà máy” dịch vụ “Cửa hàng” dịch vụ 2 8 Hàng không Bệnh viện 3 2° 'Vận tải đường bộ: Sửa chữa ôtô.
8 Khách sạn Các dịch vụ sửa chữa khác. 2 Du lịch và giải trí = Dịch vụ đại chúng. Dịch vụ chuyên nghiệp 2 Bán lẻ ác sỹ Ÿ 4 | Bánbuôn toán Ổ Ễ | Giodục uật sự: Ngân hàng bán lẻ iến trúc su Hình I. Ma trận quá trình dịch vụ, Fitzsimmons va Fitzsimmons (Nguồn: Fitzsimmons và Fitzsimmons, 2011, trợ 25) at s+ Phân lo vụ theo tính chất của hoạt động dịch vụ Ciing theo Fitzsimmons va Fitzsimmons (2011), hoat dong dich vu c6 thé được đánh giá qua hai khía cạnh: Ai/cái gì là đối tượng dịch vụ tác động trực tiếp và tính vô hình/hữu hình của dịch vụ.
Cách tiếp cận này giúp chúng ta phân loại ra bốn loại hình dịch vụ ~ _ Hoạt động hữu hình trực tiếp tới cá nhân khách hàng (dịch vụ vận tải hành khách và chăm sóc cá nhân); ~ _ Hoạt động hữu hình trực tiếp tới tài sản khách hàng (dịch vụ giặt là, lau dọn và chăm nom nhà cửa); ~_ Hoạt động vô hình trực tiếp đến nhận thức của khách hàng (dịch vụ giải tri); ~_ Hoạt động vô hình thực hiện đối với tài sản của khách hàng (dịch vụ tài chính, hậu cần), ++ Phân loại dịch vụ theo sự chuyên biệt theo yêu cầu khách hàng và mức độ tiếp xúc giữa khách hàng và người cung cấp dịch vụ Fitzsimmons Fitzsimmons (2008) nhấn mạnh đến quan hệ giữa sự chuyên biệt hóa (Customization) đáp ứng yêu cầu khách hàng và mức độ tiếp xúc giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng. ++ Phân loại dịch vụ theo mối quan hệ với khách hàng. Các công ty dịch vụ có cơ hội xây dựng mối quan hệ lâu dài bởi khách hàng thực hiện giao dịch trực tiếp với nhà cung cấp dịch vụ, thường xuyên nhất là trực tiếp cá nhân. Ngược lại, các nhà sản xuất truyền thống bị tách rời xa với khách hàng cuối cùng/người sử dụng sản phẩm bởi hệ thống phân phối (nhà cung cấp, nhà bán buôn và bán lẻ).