phần mở đầu, tác giả giới thiệu tổng quát về sơ sở hình thành đề tài, tiếp theo là xác định được mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu để thực hiện đề cương. Sau đó là ý nghĩa của việc nghiên cứu và kết cấu đề cương. Đây là phần khái quát đến những nội dung liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đồng thời xác định được đề tài nghiên cứu là: “Nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Bưu Điện Liên Việt, Phòng giao dịch Tánh Linh, Chi nhánh Bình Thuận”. Phần này làm tiền đề để thực hiện việc nghiên cứu ở các phần tiếp theo.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm và chức năng của NHTM 2. Khái niệm NHTM NHTM được đánh giá là tổ chức kinh doanh đặc biệt có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều mặt hoạt động của toàn bộ nền kinh tế. Một sự thay đổi nhỏ của các NHTM sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế.
Ngân hàng (Bank) là một từ được xuất phát từ tiếng La Tinh – có nghĩa là chiếc bàn dài. Ngân hàng được dùng để chỉ một tổ chức, một thực thể kinh tế nhưng là một tổ chức đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Mới đầu, hoạt động của NH rất sơ khai, chỉ đơn giản là bảo quản, giữ hộ tiền và đổi tiền hưởng hoa hồng…cùng với sự phát triển của thương mại, hoạt đông của NH ngày càng đa dạng hơn. Hoạt động NH từ chỗ mang tính chất như những hiệu cầm đồ đã có những bước tiến nhanh về dịch vụ.
Sự phát triển của NH gắn liền với sự phát trển của nền kinh tế và sự phát triển thương mại trên toàn thế giới. Có rất nhiều cách định nghĩa khách nhau về NHTM như sau: - Theo từ điển kinh tế tài chính ngân hàng: “NHTM là tổ chức chịu sự điều tiết về luật lệ của một nước hay pháp luật của một nước và thuộc sở hữu của các cổ đông. NH có nhiệm vụ thu nhận tiền gửi không kỳ hạn, cấp tín dụng và một số loại dịch vụ tài chính”. - Theo đạo luật ngân hàng Hoa Kỳ: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
- Theo đạo luật ngân hàng Pháp: NHTM là những cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác, và sử dụng nguồn lực đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Nguyễn Minh Kiều: “NHTM là một loại hình tổ chức tín dụng thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dụng nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động khác có liên quan.” - Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng”. Theo tính chất và mục tiêu hoạt 9 động, NH có thể có các loại hình hoạt động khác nhau như NHTM, NH phát triển, NH đầu tư, NH chính sách, NH hợp tác và các loại hình NH khác. Hoạt động NH bao gồm các hoạt động kinh doanh về tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Qua các khái niệm chúng ta có thể thấy NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Chức năng của ngân hàng thương mại (i) Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng hình thành cùng với sự hình thành của các NHTM. Thực hiện chức năng này, NHTM sẽ là cầu nối giữa các cá nhân, tổ chức có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi với những tổ chức, cá nhân tạm thời thiếu vốn.
Sự vận động của quá trình sản xuất hàng hóa bao gồm các khâu: dự trữ, sản xuất, tiêu thụ. Trong nền kinh tế luôn luôn tồn tại một bộ phận thừa vốn, trong khi đó bộ phận khác lại thiếu vốn. NHTM với chức năng trung gian huy động nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay đã làm tiết kiệm thời gian và công sức của những người muốn đi vay để phục vụ sản xuất kinh doanh. (ii) Chức năng trung gian thanh toán.
Ngay từ khi ra đời, các NHTM đã thực hiện chức năng giữ hộ khách hàng, dần dần thực hiện thanh toán hộ khách hàng. Mới đầu để thực hiện chức năng này, NH phát hành giấy bạc NH để tiết kiệm được các chi phí đúc tiền bằng kim loại. Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NH đã sử dụng một loạt các công cụ dùng trong thanh toán như: séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ thanh toán, thẻ rút tiền…. để thực hiện thanh toán tùy theo nhu cầu khách hàng có thể lựa chọn hình thức thanh toán phù hợp đảm bảo tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức và vẫn đảm bảo được thanh toán an toàn.
Như vậy, chức năng này thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế, với việc thanh toán không dùng 10 tiền mặt qua NH đã giảm được số lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiếc kiệm chi phí lưu thông tiền mặt cũng như chi phí in ấn, bảo quản tiền… Ngoài ra chức năng này còn góp phần tăng thêm lợi nhuận cho NH thông qua việc thu phí thanh toán, nó còn làm tăng nguồn vốn cho vay của NH thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gủi của KH. Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của NHTM. (iii) Chức năng tạo tiền Sự kết hợp giữa chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán là cơ sở để NHTM thực hiện chức năng tạo tiền. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NH sử dụng vốn huy động để cho vay , số tiền cho vay ra lại được KH sử dụng để mua hàng hóa thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của KH vẫn được coi như là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này hệ thống NH đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Một số vấn đề cơ bản về tín dụng 2. Khái niệm về tín dụng Thuật ngữ “tín dụng” có nguồn gốc từ La tinh, được gọi là “crediltum” - nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm. Hoạt động tín dụng đã xuất hiện từ rất lâu và tồn tại xuyên suốt cùng với lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế xã hội. Hình thức cơ bản nhất của tín dụng đơn giản chỉ là cho vay và lấy lãi.
Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006), tín dụng là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong quá trình cho vay, dùng để chỉ các loại hình cho vay có hiệu ứng tiền tệ, tức làm tăng cung ứng tiền tệ hoặc làm tăng các phương tiện thay thế tiền, là sự tài trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho các khoản chi tiêu của người khác để đổi lấy một số tiền sẽ được hoàn trả trong tương lai. Theo Giáo trình Luật Ngân hàng (2006), tín dụng là quan hệ vay (mượn) dựa trên cơ sở tin tưởng và tín nhiệm giữa bên cho vay (mượn) và bên đi vay (mượn). Theo đó, bên cho vay chuyển giao một lượng vốn tiền tệ (hoặc tài sản) để bên vay sử dụng có thời hạn. Khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả vốn (tài sản) ban đầu và lãi suất.
11 Tóm lại, tín dụng được hiểu là mối quan hệ giao dịch giữa người đi vay và người cho vay, trong đó người cho vay chuyển giao một lượng giá trị hay hiện vật sang cho người đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định và đến thời hạn đã thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay lượng giá trị hay hiện vật phải lớn hơn cái họ nhận được ban đầu, gọi là hoàn trả cả gốc lẫn lãi (lợi tức). Và đây được xem là mối quan hệ bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Tùy vào mục đích và tính chất của mối quan hệ mà tín dụng phân thành nhiều hình thức, như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại (tín dụng hàng hóa), tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước,… 2. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là một trong các hình thức của tín dụng.
Tín dụng ngân hàng là hình thức kinh doanh tiền tệ của ngân hàng, là mối quan hệ giao dịch giữa một bên cho vay là ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác và một bên đi vay là khách hàng (bao gồm cá nhân và tổ chức kinh tế) và cũng được thực hiện dựa trên nguyên tắc khi đến hạn thanh toán, khách hàng phải thực hiện hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng. Hay nói cách khác, người đi vay chỉ được sử dụng giá trị trong một khoảng thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả lại cho người cho vay có kèm phần giá trị tăng thêm gọi là lãi (Đồng Thị Vân Hồng, 2010). Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, về mặt pháp lý, cơ sở của việc hoàn trả này là các hợp đồng tín dụng, các khuế ước nhận nợ, các giấy tờ khác có nội dung liên quan đến thoả thuận. Tín dụng ngân hàng vẫn phải hoạt động dựa trên nền tảng pháp luật, và tại Việt Nam đó là Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12), Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành), và Quyết định sửa đổi bổ sung về Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (Quyết định số 127/2015/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 do Thống đốc Ngân hàng nhà nước ban hành),… 2.