CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRẢI NGHIỆM KHÁCH HÀNG TRONG THỜI ĐẠI SỐ Ở LĨNH VỰC VIỄN THÔNG DI ĐỘNG 1. Lý luận chung về trải nghiệm khách hàng (Customer Experience- CX) trong thời đại số 1. Khái niệm trải nghiệm khách hàng 1. Trải nghiệm khách hàng “Trải nghiệm khách hàng” là một thuật ngữ rất phổ biến trong nhiều năm gần đây nhưng rất khó để tìm ra một định nghĩa rõ ràng cho thuật ngữ này mặc dù nhiều doanh nghiệp cảm thấy việc cải thiện trải nghiệm khách hàng là một lợi thế cạnh tranh.
Hiểu một cách đơn giản, trải nghiệm khách hàng là sản phẩm của sự tương tác giữa một nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và khách hàng trong suốt thời gian họ sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp đó. Trên thế giới, các tổ chức và chuyên gia hàng đầu đã đưa ra nhiều cách hiểu về trải nghiệm khách hàng. Đứng trên góc độ trải nghiệm khách hàng là ấn tượng, Carbone và Haeckel (1994) đã định nghĩa Trải nghiệm khách hàng như một ấn tượng được hình thành khi khách hàng tiếp xúc với sản phẩm, dịch vụ hoặc doanh nghiệp, đó cũng là một loại nhận thức của con người. Đứng trên góc độ trải nghiệm là sự tương tác giữa khách hàng và nhà cung cấp, Gartner – tổ chức tư vấn và nghiên cứu hàng đầu thế giới đưa ra khái niệm từ năm 2007: Trải nghiệm khách hàng là những nhận thức của khách hàng và những trạng thái cảm xúc liên quan được tạo nên bởi hiệu ứng một lần và tích lũy khi họ tương tác với nhân viên, các hệ thống, các kênh hoặc sản phẩm của nhà cung cấp.
Theo Forbes, Trải nghiệm khách hàng là tác động tích lũy của nhiều điểm tiếp xúc trong suốt quá trình tương tác của khách hàng với một tổ chức. Một quan điểm khác về trải nghiệm khách hàng cho rằng: Trải nghiệm khách hàng là khoảng cách mong đợi giữa mức độ “trải nghiệm” mà khách hàng nghĩ là họ đạt được với mức độ mà họ đạt được (Millar, 2006). Responsetek (2010) cũng cùng quan điểm với Millar khi đưa ra quan điểm quản lý trải nghiệm khách hàng là 6 thu hẹp khoảng cách giữa cái mà khách hàng nhận được và sự mong đợi của khách hàng. Có thể thấy quan điểm và định nghĩa về trải nghiệm khách hàng được đưa ra tùy góc độ nhìn nhận của mỗi tổ chức, chuyên gia nên rất phong phú và đa dạng nhưng tựu chung lại, trải nghiệm khách hàng được đặc trưng bởi sự tương tác, sự tham gia, sự hòa nhập hoàn toàn vào sự việc nào đó của nhà cung cấp.
Trong khuôn khổ luận văn này, thuật ngữ trải nghiệm khách hàng được người viết đúc rút: Trải nghiệm khách hàng là tổng hòa cảm xúc của khách hàng với thương hiệu/ doanh nghiệp trong suốt hành trình khách hàng; là kết quả của loạt các tương tác giữa khách hàng và doanh nghiệp, từ khi khách hàng biết đến doanh nghiệp qua tìm kiếm trên internet, giao tiếp với người bán hàng, đến tiếp nhận/ sử dụng sản phẩm/ dịch vụ và các tương tác sau bán hàng (đổi trả, sửa chữa, bảo hành) và các lần mua hàng tiếp theo. Trên thực tế, một số khái niệm gây nhầm lẫn phổ biến về khái niệm trải nghiệm khách hàng như: trải nghiệm khách hàng là dịch vụ khách hàng (Customer Service - CS), trải nghiệm khách hàng là trải nghiệm người dùng (User Experience - UX). Trong khi UX liên quan đến cảm nhận khi sử dụng một sản phẩm như website, ứng dụng, phần mềm; tập trung vào hiệu năng, thiết kế tương tác, chiến lược nội dung, thì CS chỉ một hành động riêng lẻ, thường được vận dụng trong trường hợp có sự cố xảy ra trong quá trình bán hàng, và các hoạt động sau bán. Phân biệt trải nghiệm khách hàng và trải nghiệm người dùng Nguồn: https://www.com/studio/blog/customer-experience-vs-user- experience-why-the-difference-matters/ 7 Bảng 1.
Sự khác biệt giữa trải nghiệm khách hàng và dịch vụ khách hàng Trải nghiệm khách hàng Dịch vụ khách hàng Mục đích Tạo ra trải nghiệm liền Giải quyết các vấn đề của mạch cho khách hàng ở khách hàng và cung cấp mọi giai đoạn trong hành các giải pháp tức thì trình khách hàng Vai trò trong hành trình Diễn ra trong toàn bộ hành Duy trì mối quan hệ với khách hàng trình khách hàng khách hàng sau khi khách hàng sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Có liên quan đến Cảm xúc của khách hàng Các vấn đề gặp phải của khách hàng Bộ phận chịu trách nhiệm Tất cả các bộ phận Bộ phận dịch vụ khách chính hàng Phạm vi cải thiện Giá trị thương hiệu trong Duy trì khách hàng lòng khách hàng Chỉ số đo lường hiệu suất Net Promoter Score Customer Satisfaction (NPS): Chỉ số khách hàng (CSAT): Chỉ số khách trung thành và thiện cảm. hàng hài lòng. Chi tiết tại Chi tiết tại mục 1.1 Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 1.
Các yếu tố tạo nên trải nghiệm khách hàng Sự tương tác giữa nhà cung cấp và khách hàng được hình thành từ ba khía cạnh: hành trình khách hàng, điểm tiếp xúc thương hiệu mà khách hàng tương tác và môi trường trải nghiệm của khách hàng (bao gồm cả môi trường kỹ thuật số). Trải nghiệm khách hàng tốt có nghĩa là trải nghiệm của các cá nhân trong tất cả các điểm chạm phù hợp với mong đợi của họ. 8 • Customer Journey Map – Bản đồ hành trình trải nghiệm khách hàng: là bức tranh toàn cảnh về những trải nghiệm mà khách hàng có với doanh nghiệp qua các điểm tương tác giữa hai bên. Với sự trợ giúp của bản đồ, doanh nghiệp có thể xác định bản chất nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu.
Từ đó, từng bước xây dựng các điểm chạm và quy trình tương tác sao cho hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất. • TouchPoints – Các điểm tiếp xúc/ điểm chạm thương hiệu: là những thời điểm, những quá trình mà thương hiệu được tiếp xúc trực tiếp, tác động một chiều hoặc tương tác hai chiều với khách hàng dưới nhiều hình thức khác nhau. Nó có thể thông qua các hoạt động truyền thông như một giao diện website, một cuốn ấn phẩm quảng cáo, một phim quảng cáo truyền hình về thương hiệu,. Hoặc trực tiếp hơn, nó có thể là những yếu tố không phải truyền thông như thiết kế độc đáo của điểm bán hàng, là một cuộc trao đổi với nhân viên phục vụ; có thể là khoảnh khắc khách hàng dùng thử sản phẩm trước khi mua, hoặc cũng có thể là một cuộc điện thoại trong chương trình chăm sóc khách hàng… Tất cả những điều đó giúp khách hàng định hình một cảm nhận, và thương hiệu dần có một chỗ đứng trong tâm trí khách hàng.
• Môi trường trải nghiệm của khách hàng/ hệ sinh thái: Là các hệ sinh thái tích hợp của sản phẩm và dịch vụ mở ra những khả năng mới cho hành trình và trải nghiệm của khách hàng theo cách mà các điểm tiếp xúc bị cô lập hơn không thể làm được. Các cấp độ của trải nghiệm khách hàng Theo Gartner (2019), trải nghiệm khách hàng được chia làm 5 cấp độ dựa trên cách khách hàng được kích thích tìm hiểu về sản phẩm dịch vụ, mức độ nỗ lực của khách hàng, sự hoàn thiện của quy trình xử lý vấn đề, cảm xúc và sự thay đổi trong nhận thức của khách hàng sau trải nghiệm. 5 cấp độ từ thấp đến cao gồm được xác định gồm: Giao tiếp, Phản ứng nhanh, Cam kết, Chủ động và Đột phá. Tháp 5 cấp độ trải nghiệm khách hàng Nguồn:https://www.com/en/marketing/insights/articles/create-powerful- customer-experiences Ở cấp độ giao tiếp, hành trình đến sự trung thành và hài lòng của khách hàng trở nên tốt hơn khi doanh nghiệp bắt đầu bằng việc đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách hàng.
Doanh nghiệp cung cấp thông tin cần thiết đúng kênh khách hàng mong muốn, đúng thời điểm mà họ cần và tập trung vào việc loại bỏ những vấn đề gây phiền hà với khách hàng để có được trải nghiệm tốt hơn. Ở giai đoạn phản ứng nhanh, vấn đề của khách hàng là vấn đề của công ty. Khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải hành động vì họ chứ không đơn thuần cung cấp thông tin cho họ. Như vậy nếu sau khi cung cấp thông tin cho khách hàng (cấp độ 1), khách hàng không hài lòng với thông tin ấy, họ hỏi liệu doanh nghiệp có thể làm gì để cải thiện tình hình không, doanh nghiệp phải trả lời là họ sẽ tìm cách xử lý vấn đề.
Doanh nghiệp làm tốt cấp độ này sẽ xây dựng được quan hệ gắn kết với khách hàng. Phản ứng nhanh đòi hỏi doanh nghiệp phải vừa đáp ứng nhu cầu của khách hàng vừa giảm thiểu tài nguyên và chi phí bỏ ra. Phản ứng nhanh cho phép doanh nghiệp tối ưu hoá các chỉ số hiệu quả công việc như thời gian xử lý cuộc gọi, tỷ lệ khách hàng tự phục vụ. 10 Sau cấp độ phản ứng nhanh, doanh nghiệp cần tiến tới cấp độ tiếp theo là cam kết.
Giai đoạn này có nghĩa là đã đến lúc doanh nghiệp phải giải quyết các nhu cầu, mong muốn và yêu cầu cụ thể. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo dựng trải nghiệm dựa trên sự lắng nghe, thấu hiểu và đáp ứng nhu cầu khác nhau của khách hàng. Theo các chuyên gia, trải nghiệm ở cấp độ cam kết được tạo dựng và đo lường dựa trên sự cân bằng tình trạng tài chính ngắn hạn và các chỉ số thể hiện mối quan hệ với khách hàng. Zappos - công ty bán giày dép qua mạng internet lớn nhất thế giới, là một ví dụ điển hình làm tốt trải nghiệm khách hàng ở cấp độ này.
Trung bình mỗi nhân viên trực tổng đài dành nhiều hơn 10 giờ cho một khách hàng, điều này cho thấy công ty chăm sóc khách hàng rất chu đáo, xử lý cặn kẽ vấn đề mà họ gặp phải. Hầu hết các doanh nghiệp đạt được cấp độ 3 đã tạo được ấn tượng trong mắt khách hàng. Tuy nhiên, cấp độ này mới chỉ dừng lại ở việc “khách hàng hỏi – doanh nghiệp xử lý”, còn 2 cấp độ cao hơn của trải nghiệm khách hàng dưới đây. Với cấp độ thứ 4: chủ động, doanh nghiệp lường trước các vấn đề phát sinh và giải quyết vấn đề ấy trước khi nó xuất hiện.
Ở cấp độ này, doanh nghiệp chủ động đem đến trải nghiệm đáp ứng kỳ vọng của khách hàng, không cần khách hàng phải hỏi. Điều này đòi hỏi kiến thức và dữ liệu sâu hơn về khách hàng và các quy trình hiệu quả để thực hiện các trải nghiệm. Đó là loại CX mang lại sự hài lòng đáng kể và khá khó thực hiện. Nest Labs - công ty hàng đầu ngành công nghệ sản phẩm gia dụng thông minh trên thế giới, là một ví dụ điển hình làm tốt trải nghiệm ở cấp độ này.