CHƯƠNG 1: Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 1. Lý thuyết về sự hài lỏng của khách hàng 1. Khái niệm Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi. Nghĩa là khách hàng đã từng sử dụng dịch vụ và kết quả sau khi dùng dịch vụ được đánh giá.
Cụ thế, sự hài lòng của khách hàng là tâm trạng vui vẻ khi dùng dịch vụ hay sản phấm đạt được mong đợi của khách hàng, khi đó dịch vụ hay sản phấm đã thỏa mãn hoặc đáp ứng nhu cầu cùa khách hàng, từ đó dẫn đen lòng trung thành và ý định tái mua hàng. Kotler (2000) nhận thấy rằng sự hài lòng là một cảm giác hài lòng hoặc thất vọng của một người bằng kết quả của việc so sánh thực tế nhận được của sản phẩm (hay kết quả) trong mối liên hệ với những mong đợi cùa họ. Có nghĩa là mức độ hài lòng sẽ phục thuộc vào sự kỳ vọng ban đầu và kết quả nhận được khi so sánh lại những kỳ vọng. Neu sự kỳ vọng ban đầu cao hon kết quả nhận được thì khách hàng không hài lòng về sản phấm hay dịch vụ đó, mặt khác nếu sự kỳ vọng thấp hơn hoặc tương đương với kết quả thì khách hàng rất hài lòng hoặc hài lòng.
Lý thuyết “Kỳ vọng - Xác nhận” được phát triển bởi Oliver (1980) gom hai quá trình: kỳ vọng về dịch vụ trước khi mua và cảm nhận về dịch vụ sau khi trải nghiệm. Được hiểu rất rõ khi mua một sản phẩm dịch vụ mà trong trạng thái rất kỳ vọng, và nhận được dịch vụ hay sản phẩm có giá trị trải nghiệm tốt mang lại cảm xúc tốt cũng như hài lòng về kỳ vọng ban đầu. Phân loại Đối với việc xây dựng tòa nhà nhằm mục đích cho thuê, công ty luôn hướng đến sự hài lòng khách hàng. Theo như Stauss và Neuhaus (1997) có 3 loại hài lòng mang đến tác động khác nhau đối với nhà cung cấp dịch vụ.
10 Hài lòng tích cực (Demanding customer satisfaction): Khi nhu cầu sử dụng dịch vụ tiện ích tại tòa nhà văn phòng của khách hàng ngày càng tăng lên thì sẽ the hiện một sự hài lòng mang tính tích cực. Đối với những khách hàng có sự hài lòng tích cực, họ và nhà cung cấp dịch vụ sẽ có mối quan hệ tốt đẹp và tín nhiệm lần nhau, cảm thấy hài lòng khi mối quan hệ này phát triển bền vững. Hơn thế nữa, khách hàng còn muốn nhà cung cấp dịch vụ sẽ có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cùa mình trong bối cảnh ngày càng phát trien nhanh. Hài lòng on định (Stable customer satisfaction): Nhóm khách hàng này cảm thấy thoải mái và hài lòng với những gì đang diễn ra và họ không đòi hỏi phải có sự thay đổi trong cách cung cấp dịch vụ của hệ thống tòa nhà cho thuê.
Vì vậy có thế thấy nhóm này là những khách hàng rất dễ chịu có sự tin tưởng cao đối với dịch vụ này và sằn lòng tiếp tục sử dụng dịch vụ của tòa nhà cho thuê, chủ của doanh nghiệp cho thuê tòa nhà thuờng không mất quá nhiều thời gian trong việc tiếp thị dịch vụ tiện ích này. Hài lòng thụ động (Resigned customer satisfaction): Những khách hàng có sự hài lòng thụ động thì tin tưởng vào các tòa nhà cho thuê văn phòng. Họ cảm thấy hài lòng không phải vì nơi đây thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu của họ mà họ nghĩ rằng sẽ không the nào yêu cầu các tòa nhà cải thiện tốt hơn nữa. Vì vậy khách hàng sẽ không tích cực đóng góp ý kiến hay tỏ ra thờ ơ với những nỗ lực cải tiến của tòa nhà văn phòng thì mức độ hài lòng cũng ảnh hưởng rất lớn đến hành vi của khách hàng.
Lý thuyết về dịch vụ tiện ích 1. Khái niệm Theo Strzelecka và Skworcow (2012) cho rằng cung cấp dịch vụ tiện ích là một quá trình trong đó các sản phấm được chuyến đoi bởi các thiết bị thích hợp thành các dịch vụ đáp ứng nhu cầu và mong muốn của con người. Theo Zeithmal và Britner (2000) cho rằng dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. 11 Theo Kotler và Armstrong (2004) cho rằng dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có the cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cô và mở rộng những quan hệ và họp tác lâu dài với khách hàng.
Đặc điểm Dịch vụ tiện ích có 4 đặc diem đó là tính vô hình, tính không tách rời, tính không on định, tính không lưu trữ. Dịch vụ tiện ích mang tính vô hình (intangible): Dịch vụ tiện ích không có một hình thái cụ thể, do đó chúng ta không thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc ngửi thấy hay sờ nắm được trước khi mua. Chính vì thế để tăng sự tin tường giữa khách hàng và chủ đầu tư các tòa nhà, cần phải tác động nhiều hơn đến với khách hàng của họ, nhằm mang đến những trải nghiệm tốt nhất. Đẻ làm được điều này, các dịch vụ tiện ích mang lại cho khách hàng phải là tốt nhất, như là cơ sở hạ tầng, an ninh khu vực, giải trí,.phải đáp ứng được sự hài lòng của khách hàng, từ đó khách hàng an tâm sử dụng dịch vụ tòa nhà bền vững và gắng kết mật thiết với nhau.
Dịch vụ tiện ích mang tính không tách rời (inseparable): Dịch vụ tiện ích không thể tự mình tác động lên khách hàng mà sẽ phụ thuộc vào người cung ứng dịch vụ. Được hiểu như chất lượng dịch vụ vệ sinh hàng ngày muon luôn đảm bảo thì người cung cấp dịch vụ phải phụ thuộc bên thứ 3 là người lao công, họ thực hiện các công việc hàng ngày nhằm mang đen các sự hài lòng nhất định trong dịch vụ tiện ích. Dịch vụ tiện ích mang tính không đồng nhất (heterogeneous): Chất lượng của dịch vụ tiện ích không on định và phụ thuộc nhiều vào sức khỏe, trạng thái, hay tinh thần của nhà cung ứng, thời gian cung ứng, địa điểm hay cách thức cung ứng. Nói cách khác, chất lượng của dịch vụ tiện ích phụ thuộc vào thời gian cung ứng, ví dụ như khách hàng cần hệ thống điều hòa không khí vào lúc 7h30 vì hôm đó phải OT trước giờ làm việc, nhưng đây là chuỗi cung ứng dịch vụ toàn hệ thống nên luôn được bật điều hòa không khí lúc 8h cho các tòa nhà.
Dịch vụ tiện ích mang tính không lưu trữ (unstored): dịch vụ tiện ích không thể lưu trữ trong kho để chờ mang đi bán, hoặc chờ để sử dụng. Cụ thể hơn, dịch vụ tiện ích không thể đưa ra cung ứng rồi lưu kho như các sản phẩm thông 12 thường khác nên dịch vụ tiện ích cần hướng vào việc điều chỉnh nhịp độ cung ứng theo nhịp độ nhu cầu hay mong muốn của khách hàng và tăng cường nhân viên cung ứng khi cần thiết. Lý thuyết về chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm Chất lượng dịch vụ có thể được định nghĩa tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường cùa nghiên cứu.
Những cơ sở lý thuyết đưa ra rất nhiều quan điếm khác nhau về định nghĩa chất lượng dịch vụ nhưng nhìn 1 cách tong the, chất lượng dịch vụ được định nghĩa cơ bản như sau: Kotler và cộng sự (2005) cho rằng chất lượng dịch vụ là khả năng của một dịch vụ bao gồm độ ben của tong the, độ tin cậy, độ chính xác, sự dễ vận hành, dễ sửa chữa và các thuộc tính có giá trị khác đe thực hiện các chức năng của nó. Được hiếu chất lượng dịch vụ tại các tòa nhà cho thuê, cụ the đó là chất lượng dịch vụ bảo hành hệ thong máy lạnh của tòa nhà, phải luôn được chú trọng, sửa chữa thưòng xuyên, đáp ứng được nhiệt độ thực tế của máy lạnh, khi cần sửa chữa hay lỗi, bộ phận liên quan của tòa nhà phải nhanh chóng có mặt để sửa lỗi và khắc phục. Theo Gronroos (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ phải bao gồm 3 khía cạnh: chất lượng công nghệ (kỹ thuật), chất lượng hoạt động (chức năng) và chịu tác động bời hình ảnh công ty và tác giả cho rằng chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cách so sánh giá trị mà khách hàng mong đợi trước khi sử dụng dịch vụ và giá trị khách hàng nhận được khi sử dụng dịch vụ. Hiện nay xử lý rác thải là điều cần thiết ở mỗi toàn nhà, cần đảm bảo công nghệ xử lý chất thải để không gây ra những tác động xấu, mang đến những hình ảnh không đẹp trên các phương tiện truyền thông hay hơn hết là tại trực tiếp tòa nhà, bởi chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng những sự hài lòng cùa khách hàng, mang đến uy tín và hình ảnh cho các công ty cho thuê và phòng.
Theo Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ cùa khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Được hiểu là chất lượng dịch vụ được đánh giá 13 thông qua mong muốn và kỳ vọng của khách hàng, người cung cấp dịch vụ phải thực hiện chứ không phải là sẽ thực hiện yêu cầu của dịch vụ. Các nhân tố quyết định đến chất lượng dịch vụ Qua nhiều nghiên cứu (Berry và cộng sự, 1985; Johnston và Lyth, 1991; Sasser và cộng sự 1978) đưa ra nhận định rằng những mong đợi của khách hàng, họ hiếm khi quan tâm đến khía cạnh duy nhất của gói dịch vụ nhưng thay vào đó là với nhiều khía cạnh khác nhau của dịch vụ. Đe đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng cho khách hàng, các doanh nghiệp cần phải tìm hiếu và xác định các thành phần cấu thành nên chất lượng dịch vụ.
Parasuraman và cộng sự (1985) đã cung cấp một danh sách một so yếu tố quyết định đen chất lượng dịch vụ, đây là kết quả của các nghiên cứu nhóm tập trung với các nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng: Truy cập (access), giao tiếp (communication), năng lực (competence), lịch sự (courtesy), uy tín (credibility), độ tin cậy (reliability), phản hoi (response), bảo mật (security), hiếu biết (understanding) và hữu hình (tangibles). Theo Walker (1990) cho rằng các yếu tố quyết định chính là độ tin cậy của sản phẩm, chất lượng môi trường và hệ thống phân phối hoạt động cùng với dịch vụ cá nhân tốt - thái độ, kiến thức và kỹ năng.