CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TƯ VẤN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN ( CTCK). Những vấn đề cơ bản về công ty chứng khoán. Khái niệm và mô hình tổ chức của CTCK. Khái niệm CTCK.
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại. Chúng ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên thị trường chứng khoán. Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đang phát triển theo quy luật này. Cho đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua gần 14 năm trong lịch sử phát triển của mình, 14 năm làm quen với hoạt động của thị trường chứng khoán, 14 năm vượt qua bao thăng trầm, bao khó khăn thử thách để từng bước phát triển và bước đầu chúng ta đã thu được những thành tựu đáng kể.
Thành viên của các Sở giao dịch chứng khoán/ Trung tâm giao dịch chứng khoán là các công ty chứng khoán, thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán và cung cấp các dịch vụ khác cho nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp tham gia trên thị trường chứng khoán. Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán, thực hiện trung gian tài chính thông qua các hoạt động chủ yếu như mua bán chứng khoán, môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, phát hành và bảo lãnh chứng khoán, tư vấn chứng khoán và quản lý quỹ đầu tư. Theo quyết định số 55/2004/QĐ – BTC ngày 17 tháng 06 năm 2004 của Bộ tài chính thì “ Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01 Luan van Học viện tài chính 5 Luận văn tốt nghiệp khoán theo giấy phép kinh doanh chứng khoán do Ủy ban chứng khoán nhà nước cấp”. Điều kiện để được cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam: - Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và phát triển ngành chứng khoán.
- Có đủ cơ sở vật chất kỹ thuật cho kinh doanh chứng khoán. - Có mức vốn điều lệ tối thiểu bằng vốn pháp định. Vốn pháp định thường được quy định cụ thể cho từng loại hình nghiệp vụ. - Giám đốc, phó giám đốc ( tổng giám đốc, phó tổng giám đốc), các nhân viên kinh doanh của công ty chứng khoán phải đáp ứng đầy đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do UBCKNN cấp.
- Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cấp cho công ty có giấy phép tự doanh. Quy định về vốn đối với công ty chứng khoán. Theo khoản 1 điều 18 Nghị định 14/2007/NĐ – CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của chính phủ quy định: Vốn pháp định cho các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán, công ty chứng khoán có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt nam là: - Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam. - Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam.
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam. - Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Viêt Nam. Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán. Hiện nay trên thế giới tồn tại hai mô hình tổ chức của công ty chứng khoán là mô hình công ty chứng khoán đa năng và mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.
SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01 Luan van Học viện tài chính 6 Luận văn tốt nghiệp 1. Mô hình công ty chứng khoán đa năng. Theo mô hình công ty đa năng, công ty chứng khoán là một bộ phận cấu thành của ngân hàng thương mại. Hay nói cách khác, ngân hàng thương mại kinh doanh trên cả hai lĩnh vực là tiền tệ và chứng khoán.
Ngân hàng thương mại là những công ty có số vốn khổng lồ và sẵn sàng gia nhập những ngành có lợi nhuận cao. Với lợi thế về kinh nghiệm, vốn và chuyên môn, ngân hàng thương mại sẽ dễ dàng trong kinh doanh, cung ứng những dịch vụ tài chính đa dạng phong phú liên quan đến tài chính tiền tệ, kinh doanh chứng khoán và các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính. Mô hình này được biểu hiện dưới hai hình thức: - Đa năng một phần: Theo mô hình này các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm phải thành lập công ty con hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với kinh doanh tiền tệ. - Đa năng hoàn toàn: Các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác.
Ưu điểm của mô hình này là: - Các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hóa đầu tư. - Tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về khách hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự án. Hạn chế của mô hình này: SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01 Luan van Học viện tài chính 7 Luận văn tốt nghiệp - Vừa là tổ chức tín dụng vừa là tổ chức kinh doanh chứng khoán, do đó khả năng chuyên môn không sâu như các công ty chứng khoán chuyên doanh.
- Công ty có thể sẽ lợi dụng những ưu thế của mình để lũng đoạn thị trường.Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh. Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty chứng khoán độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Ưu điểm của mô hình này là: - Hạn chế được rủi ro cho hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính trên thị trường, tạo điều kiện cho sự phát triển tự do của thị trường. - Tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên môn hóa sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển.
Nguyên tắc hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán. Hoạt động kinh doanh chứng khoán dựa trên hai nhóm nguyên tắc cơ bản đó là nguyên tắc tài chính và nguyên tắc đạo đức. Nguyên tắc tài chính. Do tính đặc thù trong hoạt động nên hầu hết các nước đều đặt ra những nguyên tắc, quy định rất chặt chẽ về tài chính đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán.
Thông thường, các tổ chức này phải đảm bảo tuân thủ các tiêu chí sau: - Mức vốn hoạt động: vốn của một tổ chức kinh doanh chứng khoán nhiều hay ít phụ thuộc vào loại tài sản cần tài trợ, loại tài sản này lại được quyết định bởi loại hình nghiệp vụ thực hiện. Ví dụ, bảo lãnh phát hành chứng khoán là hình thức kinh doanh mà tổ chức kinh doanh cần có tiềm lực tài chính mạnh, có nhiều vốn, nhất là trường hợp tổ chức kinh doanh chứng khoán đứng ra bảo lãnh những đợt phát hành lớn. Nghiệp vụ bảo lãnh đòi hỏi SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01 Luan van Học viện tài chính 8 Luận văn tốt nghiệp vốn phải đủ lớn. Đối với hoạt động tự doanh cũng phải duy trì số lượng lớn các chứng khoán để thực hiện việc mua vào bán ra, trong khi giá của các chứng khoán luôn biến động.
Còn các hoạt động môi giới, tư vấn tài chính, tư vấn đầu tư chứng khoán… không cần vốn lớn. Do kinh doanh chứng khoán là kinh doanh trong một lĩnh vực đặc biệt, có ảnh hưởng đến lợi ích của công chúng đầu tư nên sự tồn tại ổn định, lâu dài của tổ chức kinh doanh chứng khoán và sức mạnh tài chính của các tổ chức này trong một môi trường dễ biến động cần phải được đảm bảo. Vì vậy pháp luật nhiều nước vẫn quy định điều kiện về mức vốn đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán. Vốn pháp định của tổ chức kinh doanh chứng khoán thường được quy định cụ thể cho từng loại hình kinh doanh.
Một tổ chức kinh doanh chứng khoán càng tham gia vào nhiều loại hình thì càng cần phải có nhiều vốn. Trên cơ sở các yếu tố khác nhau như quy mô thị trường, giao dịch dự kiến, khả năng tài chính của các tổ chức tham gia thi trường mỗi quốc gia khác nhau có các quy định khác nhau về mức vốn pháp định đối với các chủ thể kinh doanh chứng khoán. - Cơ cấu vốn: Việc huy động vốn của tổ chức kinh doanh chứng khoán được thực hiện thông qua việc nhận vốn góp từ các cổ đông ( trường hợp công ty cổ phần) hoặc huy động từ bên ngoài, tùy theo quy mô và tính chất của nó. Tổ chức kinh doanh chứng khoán là công ty trách nhiệm hữu hạn phải dựa vào vốn của các thành viên, vào các khoản vay của ngân hàng hoặc thỏa thuận cho thuê khác.
Việc huy động vốn và cơ cấu vốn của các chủ thể kinh doanh chứng khoán có một số đặc điểm sau: Tổ chức kinh doanh chứng khoán phụ thuộc nhiều vào các khoản vay ngắn hạn. SV: Bùi Thị Ngân Lớp: CQ48/17.01 Luan van Học viện tài chính 9 Luận văn tốt nghiệp Chứng khoán có thể mua bán trao đổi trên thị trường thường chiếm phần lớn trong tổng giá trị tài sản ( khoảng 40 – 60%) và tổng giá trị cổ phiếu ( khoảng 90%). Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản ròng phải duy trì ở mức độ nhất định. - Quản lý vốn và hạn mức kinh doanh: Các nguyên tắc này khác nhau tùy theo đặc điểm của từng nghiệp vụ mà các tổ chức kinh doanh chứng khoán thực hiện.