Chương 1: Một số lý luận về giải pháp Markerting nhằm nâng cao mức độ hai long cuả khách hàng đối với dịch vụ du lịch biển của công ty kinh doanh Chương 2: Thực trạng sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ du lịch biển của Công ty Cổ phần Du lịch và Tiếp thị Giao thông vận tải Việt Nam - Vietravel. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với du lịch biển của Công ty Cô phần Du lịch và Tiếp thị Giao thông vận tải 'Việt Nam — Vietravel. 12 CHUONG 1: MOT SO LY LUAN VE GIAI PHAP MARKETING NHAM NANG CAO CHAT LUOQNG DICH VU DU LICH 1. LY THUYET VE DU LICH VA GIAI PHAP MARKETING 1.
Các khái niệm về dụ lich và du lịch bién 1. Du lịch Khái niệm về du lịch luôn được thay đổi theo thời gian cùng với sự thay đổi về bản chất của nó. Ban đầu du lịch chỉ là hiện tượng lẻ tẻ của một số Ít người thuộc tầng lớp trên trong xã hội. Lúc đó nó chưa được xem là hiện tượng kinh doanh mà chỉ là một hiện tượng nhân văn làm phong phú nhận thức của con người.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khách du lịch ngày càng đông, việc giải quyết nhu cầu ăn ở đã trở thành một cơ hội kinh doanh va dan dan du lich được xem như một nganh công nghiệp “ngành công nghiệp không khói”. Dưới góc độ nghiên cứu, môi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau. Giới du lịch phương Tây thường công nhận định nghĩa của hai giáo sư Thụy Sỹ là W.Hunziken và Kraff được Hội Liên hiệp các chuyên gia quốc tế về du lịch học (Aiest) chấp nhận vào năm 1970 rằng: “Du lịch là sự tổng hợp các quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trủ tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”. Theo Michael Cotman: “Du lich là tổng hợp các mối quan hệ tương hỗ do sự tương tác của bốn nhóm du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và dân cư tại nơi đến du lịch tạo nên”.
Trong Du lịch và kinh doanh du lịch của PGS Trần Nhạn: “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được thâm nhận những giá trị vật chất và tỉnh thần đặc sắc, độc đáo, khác lạ với quê hương họ, không nhằm mục đích sinh lời được tính bằng đồng tiền”. Theo pháp lệnh Du lịch của Việt Nam, tại điều 10 thuật ngữ du lịch được hiểu như sau: “Du lich là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.2 Du lịch biển + Du lịch biên là loại hình du lịch khai thác các nguồn tài nguyên biên và ven biển như các bãi biển, phong cảnh đẹp, những giả trị nhân văn và loại hình du lịch này phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, đặc biệt là điều kiện khí hậu. Sự kết hợp giữa điều kiện thuận lợi của khí hậu với các điều kiện khác là tiềm năng du lịch to lớn đối với sự phat trién du lich bién. + Du lịch biển là loại hình du lịch gắn liền với biên, thuận lợi cho việc tô chức các hoạt động tắm biên, thể thao biên (bóng chuyền bãi biển, lướt ván.
Loại hình du lịch này có tính mùa rất rõ nên nó thường được tổ chức vào mùa nóng hoặc mùa hè với nhiệt độ nước biển và không khí trên 20 độ C. Nếu bờ biển ít dốc, môi trường sạch đẹp thì khả năng thu hút mọi người càng lớn. - Các loại hình du lịch biển hiện nay gồm: + Du lịch sinh thái: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Du lịch sinh thái là hoạt động nhằm thỏa mãn du khách về tìm hiểu các hệ sinh thái tự nhiên và văn hóa bản địa.
Địa điểm tổ chức thường là nơi tương đối hoang sơ, có phong cảnh đẹp, văn hóa bản địa gần như được bảo tồn nguyên vẹn: như các vườn quốc gia, các khu dự trữ sinh quyền, các khu bảo tồn thiên nhiên, các làng, bản văn hóa. + Du lịch nghi dưỡng: Là hoạt động du lịch nhằm khôi phục lại sức khỏe của con người sau thời gian làm việc mệt mỏi. Địa điểm yêu thích với du khách thường là nơi có khí hậu trong lành, mát mẻ, phong cảnh đẹp. + Du lịch lặn biển: Du lịch lặn biển là một sản phẩm có đầu tư công nghệ, vốn, chất xám.
Vùng biển đảo thích hợp cho loại hình du lịch này là những nơi có vịnh, bãi cát đẹp, nước trong, phong cảnh còn giữ nguyên được vẻ hoang sơ, có nhiều loại san hô và các hang động hấp dân. Theo nghiên cứu của Trung tâm Du lịch lặn biên Orca - Nha Trang, hiện nay vùng biên từ Đà Năng đến Bình Thuận thuận lợi cho du lịch lặn biển phát triển. Lùi vào phía nam có Côn Đảo cũng là một điềm lặn tuyệt vời. Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn còn bỏ ngỏ đề nước ngoài khai thác do hạn chế về kinh nghiệm và công nghệ.
Vốn đầu tư cho ngành du lịch lặn biển cần khá lớn. Quy hoạch cho ngành này hoàn toàn chưa có, đa phần vẫn phát triển theo lỗi tự phát, vừa gây lãng phí lớn vừa không bảo tồn sinh thái biên. + Du lịch thể thao: Đây là sản phẩm du lịch gắn liền với sở thích của khách về một loại hình thê thao nảo đó. Du lịch thê thao được chia thành hai loại: Du lịch thể thao chủ động và du lịch thể thao bị động.
Du lịch thể thao chủ động là hình thức du lịch, trong đó khách du lịch tham gia trực tiếp vào hoạt động thể thao: bóng 14 chuyền bãi biển, lướt ván, đua mô tô nước. Du lịch thể thao thụ động là những chuyến đi để xem các cuộc thi đấu thể thao, thế vận hội. + Du lịch nghiên cứu, học tập: Là loại hình du lịch ngày càng phổ biến, do nhu cầu kết hợp lý luận và thực tiên, học đi đôi với hành. Một trong các hình thức biểu hiện của loại hình này là sinh viên thuộc các ngành địa lý, lịch sử, văn hóa, môi trường.được tô chức, đi nghiên cứu, tìm hiệu thực tế.
Địa điểm đến là những nơi có đối tượng phù hợp với nội dung học tập như vườn quốc gia, khu dự trữ sinh quyên, các di tích lịch sử văn hóa.khu vực biển đảo. - Đặc điểm của ngành du lịch biển Đặc điểm của dịch vụ làkhông tổn tại ở dạng sản phẩm cụ thể như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của con người, xã hội. Bên cạnh thắc mắc du lịch biển là gì và nguồn tài nguyên du lịch biển Việt Nam, những đặc điểm của ngành du lịch biển cũng đang là mối quan tâm lớn của du khách. Phân bố Du lịch biên đảo phân bó ở những vùng ven biển và vùng biển ven bờ.
Biển đảo Việt Nam có tiềm năng du lịch lớn với đường bờ biên dài 3260km, hơn | triệu km2 mặt nước biên, kéo dài từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Hà Tiên (Cà Mau) với hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ, phân bố rải rác trên hầu hết các tỉnh từ Bắc vào Nam. Tính thời vụ Khí hậu Việt Nam có tính chất nhiệt đới âm gió mùa vì thế hoạt động du lịch biển đảo phụ thuộc nhiều vào yêu tô khí hậu. Mùa hẻ là khoảng thời gian cao điểm của du lịch biển đảo vì thời tiết oi bức nên các nhu cầu tắm biển, nghỉ dưỡng tăng cao. Tuy nhiên, mùa đông lại là mùa ít cao điểm của du lịch biển đảo, nhất là đối với các tỉnh miền Bắc do ảnh hưởng của không khí lạnh, không thích hợp cho các loại hình tắm biển và nghỉ dưỡng.
Đặc biệt, Việt Nam nằm trong phạm vi chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới nên thời tiết diễn biến thất thường, làm gián đoạn hoạt động du lịch biển đảo đến chất lượng dịch vụ Tính đa dạng Du lịch biển đảo là sự tổng hợp đa dạng của nhiều loại hình du lịch như: Nghỉ dưỡng, thể thao, tham quan, khám phá, nghiên cứu thậm chí là du lịch mạo hiểm. Đây là cơ sở đê đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi du khách 1. Các khái niệm về Marketing dịch vụ và giải pháp Marketing du lịch 1. Marketing dich vu 1.1 Khai niém Dinh nghĩa marketing dịch vụ là các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người (khách hàng).
Tất cả các hoạt động quảng bá, thu hút dịch vụ thông qua việc mua bán và sử dụng dịch vụ. Marketing dịch vụ cần làm nhiệm vụ: e Nghiên cứu, tìm ra những nhu cầu liên quan đến dịch vụ mà người tiêu dùng dịch vụ đang quan tâm. e Phát triển các dịch vụ đáp ứng nhu cầu e Xác định giá cả thích hợp e Tổ chức kênh cung cấp e Thúc đây việc tiêu dùng dịch vụ 1.12 Vai trò của Marketing dịch vụ Marketing đối với sự phát triển của doanh nghiệp Các chiến lược Dịch vụ Marketing áp dụng mang ý nghĩa khá quan trọng. Trên thị trường Dịch vụ Marketing giúp các doanh nghiệp phát triên và tồn tại một cách vững chắc lâu dài.
Những người làm Marketing rất nhạy cảm với thị trường, về những thay đổi môi trường bên ngoài. Do đó, họ sẽ cung cấp cho Doanh Nghiệp khả năng thích ứng với các sự thay đổi một cách phù hợp. Thông tin về doanh nghiệp được Marketers cung cấp ra bên ngoài cũng như phản hồi về thông tin doanh nghiệp đề theo đó sự phát triển về sản phâm dịch vụ sẽ được nghiên cứu, và để nâng cao về sức cạnh tranh thì khách hàng luôn được nâng cao tử việc cung cấp dịch vụ. Marketing déi với khách hàng Những nhu cầu mong muốn từ khách hàng như giá trị cộng thêm, dịch vụ sản phẩm hay là các dịch vụ khách hàng, .được Dịch vụ Marketing giúp cho thỏa mãn được các mong muốn đó.
Những thông tin như giá cả, thông tin của sản phâm dịch vụ, những lợi ích,.thì khách hàng phải biết rõ khi sử dụng dịch vụ. Hầu hết về các tính bổ ích này đều được sáng tạo các ý tưởng từ hoạt động Dịch vụ Marketing.