mở đầu nghiên cứu về chất lượng dịch vụ, mô hình đo lường chất lượng dịch vụ và được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá là khá toàn diện. Hiện nay, mô hình SERVQUAL (Parasuraman và Cộng sự 1988) là một trong những mô hình chất lượng dịch vụ được sử dụng nhiều và phổ biến trên thế giới. Parasuraman và Cộng sự (1994) đã liên tục kiểm định mô hình, xem xét các lý thuyết khác nhau và đưa ra kết luận rằng đây là mô hình đạt độ tin cậy và giá trị. Mô hình này có thể áp dụng cho nhiều loại hình dịch vụ khác nhau như khách sạn, nhà hàng, bệnh viện, … Parasuraman và Cộng sự (1985) cho rằng bất kỳ dịch nào, chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng đều có thể đo lường bằng 10 thành phần dưới đây: Độ tin cậy (Reliability): sự nhất quán trong vận hành, thực hiện đúng chức năng ngay từ đầu, thực hiện đúng những lời hứa chính xác và trung thực.
Tinh thần trách nhiệm (Responsiveness): Sẵn sàng cung cấp dịch vụ kịp thời, đúng lúc, với thái độ hào hứng và lịch sự. Năng lực (Competence): Nhân viên có kĩ năng thành thạo, kiến thức sâu rộng, cần thiết để thực hiện cung ứng dịch vụ. Tiếp cận được (Access): Dễ dàng liên lạc, giao tiếp, giờ giấc thuận tiện, giảm thiểu thời gian chờ đợi và khả năng tiếp cận với nhân viên cung ứng dịch vụ. Tác phong (Courtesy): Sự lịch thiệp, tôn trọng, quan tâm của nhân viên.
Trong thời gian làm việc đảm bảo trang phục gọn gàng, sạch sẽ, kiểu tóc và trang điểm phù hợp. Giao tiếp (Communication): Sử dụng ngôn ngữ mà khách hàng có thể hiểu, luôn lắng nghe ý kiến khách hàng; điều chỉnh cách giao tiếp đối với những nhóm khách hàng khác nhau, có nhu cầu khác nhau; thái độ phù hợp, lịch thiệp khi giao tiếp với khách hàng, với từng nhóm khách hàng, … Sự tín nhiệm (Credibility): Trung thực, đáng tin cậy; uy tín của công ty; tư cách cá nhân của người phục vụ. 11 Tính an toàn (Security): Không có nguy hiểm, rủi ro hoặc ngờ vực; an toàn về vật chất; an toàn về tài chính; giữ bí mật khách hàng. Thấu hiểu khách hàng (Understanding the customers): Nỗ lực để tìm hiểu nhu cầu của từng khách hàng; ghi nhớ cụ thể yêu cầu của từng khách hàng; nhận biết các khách hàng thường xuyên, khách hàng trung thành của công ty.
Tính hữu hình (Tangibles): Những yếu tố hữu hình tại doanh nghiệp cũng cung cấp, thể hiện chất lượng dịch vụ cung ứng tới khách hàng. Mô hình 10 thành phần chất lượng dịch vụ trên có ưu điểm là bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ. Tuy nhiên, cũng tồn tại nhược điểm là phức tạp trong việc đo lường. Ngoài ra, mô hình này mang tính lý thuyết, có những thành phần của mô hình khó có thể có giá trị phân biệt.
Do vậy, sau nhiều lần kiểm định và xem xét mô hình, các nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm năm thành phần cơ bản (Năm tiêu thức của RATER), đó là: Độ tin cậy (Reliability): Khả năng thực hiện dịch vụ đúng như đã hứa, chính xác và đáng tin cậy. Độ tin cậy bao hàm cả sự tin tưởng của khách hàng vào các giá trị sử dụng dịch vụ của hiện tại và tương lai mà không cần kiểm nghiệm trước. Độ tin cậy càng lớn thì sức hấp dẫn đối với khách hàng càng mạnh. Tính hữu hình (Tangibles): Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và hình thức bên ngoài của nhân viên cung ứng.
Đây là yếu tố bên ngoài mà khách hàng dễ dàng nhận thấy được và coi đó là một tiêu thức để đánh giá chất lượng dịch vụ. Tinh thần trách nhiệm hay sự đáp ứng (Responsiveness): Sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và cung ứng dịch vụ nhanh chóng. Nhà cung cấp luôn thể hiện tinh thần trách nhiệm nhằm cung ứng cho khách hàng dịch vụ trọn vẹn; trong trường hợp xảy ra sự cố, nhà cung ứng phải có trách nhiệm giải quyết nhanh chóng. Bên cạnh đó, nhân viên cung ứng dịch vụ luôn phải có thái độ nhiệt tình hỗ trợ khách hàng, giải quyết thoả đáng khiếu nại phát sinh của khách hàng và sẵn sàng lắng nghe, giúp đỡ những yêu cầu từ khách hàng.
Sự thấu cảm (Empathy): Quan tâm, lưu ý cá nhân đối với từng khách hàng. Mỗi khách hàng thường đặt ra những yêu cầu riêng đối với dịch vụ mình sử dụng. 12 Nhà cung ứng hay nhân viên cung ứng cần thể hiện sự quan tâm, lưu ý và đáp ứng những yêu cầu này với một thái độ nhiệt tình nhằm tạo ra cho khách hàng sự hứng thú và niềm tin khi sử dụng dịch vụ. Sự đảm bảo (Assurance): Kiến thức, kỹ năng của nhân viên cung ứng; cũng như khả năng gây niềm tin, sự tín nhiệm của họ.
Dựa trên năm thành phần chất lượng dịch vụ và kết quả kiểm định ở nhiều dịch vụ khác nhau, Parasuraman và Cộng sự (1991) đã xây dựng mô hình SERVQUAL cuối cùng để đánh giá chất lượng dịch vụ gồm 22 biến quan sát tương ứng với 22 phát biểu để đo lường năm thành phần của chất lượng dịch vụ, đó là: độ tin cậy, sự hữu hình, sự phản hồi, sự cảm thông và sự đảm bảo. Mô hình SERVQUAL sẽ đo lường chất lượng dịch vụ với một bộ thang đo gồm 2 phần và mỗi phần có 22 phát biểu trên. Phần thứ nhất nhằm xác định kỳ vọng của khách hàng về loại dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp. Phần thứ hai nhằm xác định cảm nhận của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp thực hiện.
Kết quả nghiên cứu nhằm tìm ra khoảng cách giữa mong đợi và cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Tuy nhiên, đã có nhiều tranh luận về việc sử dụng mô hình SERVQUAL để đánh giá chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu của Cornin và Taylor (1992) với mô hình SERVPERF cho rằng chỉ có mức độ cảm nhận của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp thực hiện mới phản ánh tốt nhất và chính xác nhất chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp đó. Kết luận này đã được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình, kể tới như Lee và cộng sự (2000), Brady và cộng sự (2002).
Họ đã chỉ ra ưu điểm của mô hình SERVPERF so với mô hình SERVQUAL như: Thang đo SERVPERF cho kết quả tốt hơn thang đo SERVQUAL. Bảng hỏi của mô hình SERVPERF ngắn gọn hơn nên không gây nhàm chán và mất thời gian cho người đọc. Từ đó, kết quả thu được sẽ chính xác hơn. Khái niệm sự kì vọng thường mơ hồ đối với người trả lời, thông thường mọi người đều kì vọng dịch vụ ở mức cao.
13 Khách hàng có xu hướng đã so sánh giữa kì vọng và cảm nhận khi trả lời câu hỏi mức độ cảm nhận. Mô hình SERVPERF đánh giá chất lượng dịch vụ gồm 22 phát biểu tương ứng với 22 biến quan sát tương tự như phần hỏi cảm nhận của mô hình SERVQUAL, bỏ qua phần hỏi về kì vọng: Thành phần Thang đo Khi hứa sẽ thực hiện 1 điều gì đó vào khoảng thời gian cụ thể,công ty XYZ sẽ thực hiện Khi bạn có vấn đề, công ty XYZ thể hiện sự quan tâm chân thành khi giải quyết vấn đề Độ tin cậy Công ty XYZ thực hiện dịch vụ ngay từ lần đầu tiên Công ty XYZ cung cấp dịch vụ đúng vào thời điểm công ty hứa sẽ thực hiện Công ty XYZ luôn lưu tâm đến việc giữ gìn tiếng tăm của mình. Công ty XYZ có trang thiết bị hiện đại Công ty XYZ có cơ sở vật chất trông rất hấp dẫn Sự hữu hình Nhân viên của công ty XYZ có trang phục gọn gàng, cẩn thận Cơ sở vật chất của công ty XYZ có hình thức, kiểu dáng hấp dẫn và liên quan đến dịch vụ cung cấp Công ty XYZ cho khách hàng biết khi nào họ cung cấp dịch vụ cho Nhân viên của công ty XYZ luôn nhanh chóng phục vụ dịch vụ cho Khả năng đáp khách hàng. ứng Nhân viên của công ty XYZ luôn sẵn lòng giúp đỡ khách hàng Nhân viên công ty XYZ không bao giờ quá bận rộn để không đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Khách hàng có thể tin tưởng mọi hành vi của nhân viên trong công ty Sự đảm bảo XYZ. 14 Khách hàng cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với công ty XYZ. Nhân viên XYZ luôn niềm nở, lịch sự và nhã nhặn với khách hàng Nhân viên luôn được công ty XYZ cập nhật kiến thức, nâng cao tay nghề để thực hiện tốt công việc của họ Công ty XYZ luôn dành sự chú ý đến từng cá nhân khách hang Nhân viên công ty XYZ luôn quan tâm đến khách hàng Nhân viên công ty XYZ hiểu rõ nhu cầu của khách hàng. Sự cảm thông Nhân viên công ty XYZ luôn đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu.
Công ty XYZ làm việc vào những giờ thuận tiện cho khách hàng của họ Mô hình này có thể ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ, tuy nhiên cần có sự biến đổi trong phát biểu để phù hợp với loại hình dịch vụ nghiên cứu. Từ những tổng quan đánh giá ở trên, mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor cho phép đánh giá chất lượng dịch vụ, đo lường các thành phần có liên quan tới sự thoả mãn khách hàng. Mô hình này đã được nhiều nghiên cứu trước đây sử dụng để đánh giá sự hài lòng khách hàng, đánh giá chất lượng dịch vụ. Các nghiên cứu ở những ngành nghề khác nhau, nhưng qua mô hình áp dụng đều đã phản ánh đúng bản chất của chất lượng dịch vụ trong những ngành nghề đó.
Vì vậy, tác giả lựa chọn mô hình SERVPERF để đánh giá chất lượng dịch vụ cho vay KHDNNVV tại BIDV Chi nhánh Sở Giao dịch 3. Dịch vụ cho vay KHDNNVV và đánh giá chất lượng dịch vụ cho vay KHDNNVV 1. Dịch vụ cho vay KHDNNVV 1. Khái niệm dịch vụ cho vay KHDNNVV Theo Thông tư 39/2016/TT-NHNN, “cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận có nguyên tắc hoàn trả gốc lãi”.
15 Hoạt động cho vay là hoạt động sinh lời lớn nhất song rủi ro cao nhất cho ngân hàng. Để ngân hàng tồn tại và phát triển bền vững, hoạt động cho vay phải an toàn và hiệu quả. Với xu hướng phát triển của nền kinh tế, nghiệp vụ cho vay ngày càng đa dạng, đầu tư vào tất cả các lĩnh vực, ngành nghề. Dịch vụ cho vay là toàn bộ những công việc hỗ trợ khách hàng nhằm hoàn thành thủ tục vay vốn cho khách hàng.