Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Trung Tâm Festival Huế. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tại Trung tâm Festival Huế. Phần 3: Kết luận và kiến nghị. 5 | Sinh viên guyễn Thị Minh gọc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Thị gọc Anh PHẦ 2: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ CÔ G TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂ GUỒ HÂ LỰC 1. guồn nhân lực Theo Đỗ Minh Cương và N guyễn Thị Doan thì: “N hân lực là những cá nhân có nhân cách, có khả năng lao động sản xuất” [2] Thuật ngữ nguồn nhân lực (Human Resources) được biết đến vào những năm 1960 khi giá trị của quan hệ lao động bắt đầu thu hút sự chú ý và khi các khái niệm như động lực, hành vi tổ chức và đánh giá lựa chọn bắt đầu hình thành. Đến những năm 80 của thập niên XX, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển trên Thế giới. N guồn nhân lực (N N L) là nguồn lực của con người, là một yếu tố quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay có nhiều cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực: Theo N icolas Herry (2007): “N N L là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về N N L xuất phát từ quan niệm coi N N L là nguồn lực với các yếu tố thể chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức.” [18] Theo David Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornhusch (2008): N guồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. [17, tr282] Theo Phạm Minh Hạc (2001): N guồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó [5, tr. Theo Mai Quốc Chánh, Trần Xuân Cầu (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “N hân lực là sức lực con người, nằm trong 6 | Sinh viên guyễn Thị Minh gọc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Thị gọc Anh mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một lúc nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động” [1, tr. Theo N guyễn Lộc (2010): “N guồn nhân lực là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng”. [10] Theo N guyễn Hữu Dũng: “N guồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội.
Ở góc độ thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội. Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ. Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ. Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người.
Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn” [3,tr5] N hư vậy, qua các khái niệm trên ta có thể thấy nguồn lực con người không chi đơn thuần là các lực lượng lao động sẵn có, mà còn bao gồm cả sức mạnh của thể chất, trí tuệ và tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được tham gia vào quá trình phát triển xã hội. Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Có thể nói, N N L là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia trong một thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (Thể lực, trí lực, nhân cách). N hờ tính thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp 7 | Sinh viên guyễn Thị Minh gọc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Lê Thị gọc Anh ứng nhu cầu phát triển hiện nay. Vì vậy, có thể định nghĩa N LL như sau: “N guồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phNm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm Đào tạo nguồn nhân lực: Công tác đào tạo nguồn nhân lực phải được thực hiện một cách có tổ chức và kế hoạch để nguồn nhân lực trong các tổ chức có thể đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng trên thị trường.
Theo đó, hoạt động đào tạo được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Theo Trần Quốc Hà (2002), Đào tạo nguồn nhân lực là việc huấn luyện người lao động tập trung vào những công việc hiện tại, chú trọng đến các công việc mang tính cá nhân, thời gian thực hiện việc đào tạo thường ngắn và với mục đích chủ yếu là để khắc phục sự thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng thực hiện công việc hiện tại. Mặc dù sự thành công trong kinh doanh của một doanh nghiệp phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nhưng nguồn nhân lực vẫn là một yếu tố quyết định cho sự thành công đó. Vì vậy, để phát triển toàn diện tiềm năng chất lượng của đội ngũ lao động, phục vụ mục tiêu của daonh nghiệp thì các doanh nghiệp cần phải chú trọng tổ chức tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực.[9] Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2008), Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình truyền đạt và lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai. [1,tr91] Theo tác giả N guyễn Tiệp (2006), “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình thúc đNy phát triển nguồn lực con người tri thức, phát triển các kỹ năng và các phNm chất lao động mới, thúc đNy sáng tạo thành tựu khoa học- công nghệ mới, bảo đảm cho sự vận động tích cực các ngành nghề, lĩnh vực và toàn xã hội.
Quá trình đào tạo làm biến đổi nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm phát huy, khơi 8 | Sinh viên guyễn Thị Minh gọc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Lê Thị gọc Anh dậy những tiềm năng con người; phát triển toàn bộ và từng bộ phận trong cấu trúc nhân cách; phát triển cả về năng lực vật chất và tinh thần, tạo dựng và ngày càng nâng cao, hoàn thiện cả về đạo đức và tay nghề, cả về tâm hồn và hành vi từ trình độ chất lượng này đến lên trình độ chất lượng khác cao hơn, toàn diện hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực cho CN H, HĐH đất nước.” [12, tr34] Theo Lê Thanh Hà (2009), Công tác đào tạo nguồn nhân lực được hiểu “Là một quá trình bao gồm việc xác định nhu cầu đào tạo, xây dựng quá trình đào tạo, triển khai thực hiện đào tạo và đánh giá quá trình đào tạo nhằm thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. [8, tr35] Thực hiện tốt công tác đào tạo nguồn nhân lực là điều kiên quyết để các doanh nghiệp có thể đứng vững trên thị trường và cũng như giành thắng lợi trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Do đó, công tác đào tạo cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch.
Phát triển nguồn nhân lực: Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực (PTN LL) được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu về phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… Để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phNm, góp phần làm giàu cho đất nước làm giàu cho xã hội. Theo cách tiếp cận của các nhà kinh tế hiện đại: Con người là mục tiêu của sự phát triển chứ không phải là nhân tố sản xuất thông thường. Vì vậy, việc phát triển con người là sự mở rộng các cơ hội lựa chọn, nâng cao năng lực nhằm hưởng thụ một cuộc sống hạnh phúc, ấm no và bền vững.
Vì thế việc phát triển con người không chỉ là sự gia tăng về thu nhập, của cải vật chất mà còn bao gồm cả việc mở rộng khả năng của con người, tạo cho con người có thể tiếp cận nền giáo dục tốt hơn, chỗ ở tiện nghi hơn và việc làm có ý nghĩa hơn [7]. Xét về nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển [14]: 9 | Sinh viên guyễn Thị Minh gọc Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.