phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo thì luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của việc kết hợp NCKH với đào tạo. Phân tích thực trạng hoạt động NCKH của giảng viên trƣờng ĐH Hồng Bàng TP. Xây dựng khung tiêu chí đánh giá giảng viên theo hƣớng phát triển hoạt động NCKH kết hợp với giảng dạy nhằm nâng cao chất lƣợng đào tạo tại trƣờng ĐH Hồng Bàng TP.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KẾT HỢP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỚI ĐÀO TẠO 1. Một số khái niệm chung 1. Khái niệm nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là quá trình áp dụng các ý tƣởng, nguyên lý và phƣơng pháp khoa học để tìm ra các kiến thức mới nhằm mô tả, giải thích hay dự báo về các sự vật, hiện tƣợng trong thế giới khách quan.[26] NCKH là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt đƣợc từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phƣơng pháp và phƣơng tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. [25; 32] NCKH học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con ngƣời), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng. NCKH là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chƣa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phƣơng pháp mới và phƣơng tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới [38].TS Dƣơng Thiệu Tống: “NCKH là một hoạt động có hệ thống nhằm khám phá, phát triển và kiểm chứng những kiến thức mới mẻ. Nó là một hoạt động nỗ lực có chủ đích, có tổ chức nhằm thu thập những thông tin, xem xét kỹ, phân tích xếp đặc các các dữ kiện lại với nhau rồi rồi đánh giá các thông tin ấy bằng con đường qui nạp và diễn dịch” [26].
Cũng theo những quan điểm trên, PGS.Vũ Cao Đàm cho rằng NCKH nói chung là nhằm thỏa mãn về nhu cầu nhận thức và cải tạo thế giới đó là: “Khám phá những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng; phát hiện qui luật vận động của sự vật và hiện tượng; vận dụng qui luật để sáng 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tạo giải pháp tác động lên sự vật hiện tượng. NCKH là một quá trình sử dụng những phương pháp khoa học, phương pháp tư duy, để khám khá các hiện tượng, phát hiện qui luật để nâng cao trình độ hiểu biết, để giải quyết những nhiệm vụ lý luận hay thực tiễn, các đề xuất trên cơ sở kết quả NC” [38]. Mục đích của nghiên cứu khoa học Hoạt động nghiên cứu khoa học là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của bất cứ trƣờng ĐH, CĐ nào. Mỗi nhà trƣờng muốn làm mới mình, muốn không bị lạc hậu, muốn luôn đổi mới, sáng tạo và đảm bảo chất lƣợng đào tạo, cần thiết phải coi trọng hoạt động nghiên cứu khoa học trong suốt quá trình đào tạo của mình.
[26; 32] NCKH là hoạt động không thể thiếu đối với các trƣờng ĐH, CĐ nói chung và ngƣời GV nói riêng. NCKH là động lực thúc đẩy GV say mê nghề nghiệp, giúp cho GV làm chủ đƣợc tri thức trên cơ sở độc lập suy nghĩ, sáng tạo, biết vận dụng tri thức vào bài giảng cũng nhƣ thực tiễn cuộc sống. Mỗi bài viết, mỗi vấn đề nghiên cứu đòi hỏi GV phải vạch ra đề cƣơng, đọc những tài liệu liên quan…Vì thế, GV có quá trình tích luỹ về lƣợng để biến đổi về chất; tri thức ngày càng đƣợc mở rộng và chuyên sâu hơn.[3; 34] Các hoạt động NCKH của trƣờng đại học, cao đẳng phục vụ hoàn thiện mục tiêu, đổi mới chƣơng trình đào tạo, cập nhật và hiện đại hóa nội dung môn học, xây dựng hệ thống tài liệu học tập: giáo trình, tài liệu tham khảo, … nhằm đáp ứng yêu cầu không ngừng nâng cao chất lƣợng đào tạo. Thông qua NCKH để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu của đội ngũ GV và các nhà NC của nhà trƣờng, từ đó, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lƣợng đào tạo phù hợp nhu cầu xã hội.
Mặc khác, qua NCKH nhà trƣờng góp phần vào việc giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn kinh tế - xã hội đặt ra trong công cuộc đổi mới và hội nhập toàn cầu.[1; 2] Nghiên cứu khoa học trong giáo dục nhằm:[29; 27] - Góp phần xây dựng hệ thống lý luận của khoa học giáo dục; - Góp phần nâng cao hiệu quả, chất lƣợng giáo dục và đào tạo; 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho ngƣời nghiên cứu khoa học; - Góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách giáo dục 1. Nguồn nhân lực NCKH trong trường đại học Trong khuôn khổ của Luận văn này, khi nghiên cứu nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học trong trƣờng đại học tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với các đối tƣợng là lực lƣợng nghiên cứu chuyên nghiệp; lực lƣợng vừa nghiên cứu vừa tham gia giảng dạy - đào tạo, và lực lƣợng vừa nghiên cứu vừa quản lý trong nhà trƣờng. Giảng viên là ngƣời trực tiếp thực hiện công tác giảng dạy và đào tạo, và là nhân tố quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lƣợng giảng dạy. Trong hệ thống tổ chức của một trƣờng đại học, bên cạnh giảng viên – lực lƣợng chủ yếu của trƣờng còn có cán bộ quản lý, chuyên viên trong các phòng ban kiêm nhiệm giảng dạy và tập sự.
Giảng viên Đại học – Cao đẳng phải thực hiện những nhiệm vụ chính là giảng dạy đại học, bồi dƣỡng sau đại học, hƣớng dẫn NCKH, hƣớng dẫn thực tập tốt nghiệp; bồi dƣỡng nghiệp vụ chuyên môn; tham gia công tác quản lý của trƣờng; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của ngƣời công dân với xã hội.[39; 35; 36] Giảng viên đƣợc phân theo ngạch nhƣ sau: [2; 3; 34; 35] - Trợ giảng và Giảng viên tập sự: là ngƣời đƣợc tuyển dụng vào ngạch giảng viên đang trong thời kỳ tập sự giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Trợ giảng và giảng viên tập sự có nhiệm vụ hỗ trợ, đảm nhiệm một phần công tác giảng dạy môn học dƣới sự hƣớng dẫn, chịu trách nhiệm của giảng viên phụ trách môn học. - Giảng viên: Là ngƣời có chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH, CĐ thuộc một chuyên ngành đào tạo của trƣờng. GV có nhiệm vụ giảng dạy các môn học đƣợc phân công; tham gia hƣớng dẫn, đánh giá, chấm luận văn, đồ án tốt nghiệp đại học; tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học; thực hiện đầy đủ các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ, và quy chế của các trƣờng đại học.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phó Giáo sư - Giảng viên chính: Là ngƣời chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt trong giảng dạy và đào tạo ở bậc ĐH và sau đại học. Phó Giáo sƣ, GV chính có nhiệm vụ là giảng dạy các môn học đƣợc phân công, tham gia giảng dạy sau đại học, bồi dƣỡng sinh viên giỏi; chủ trì hƣớng dẫn luận văn, đồ án tốt nghiệp, chủ trì hoặc tham gia hƣớng dẫn luận văn thạc sĩ, phản biện luận án tiến sĩ, hƣớng dẫn NC sinh và thực tập sinh, có trách nhiệm bồi dƣỡng giáo viên theo yêu cầu phát triển chuyên môn; chủ trì tham gia thiết kế xây dựng mục tiêu, kế hoạch chƣơng trình đào tạo, chủ trì hoặc tham gia biên soạn giáo trình. - Ngạch Giáo sư - Giảng viên cao cấp: Là ngƣời chuyên môn cao nhất đảm nhiệm vai trò chủ trì, tổ chức chỉ đạo và thực hiện giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học và sau đại học. Đây là đội ngũ nòng cốt trong quá trình giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo trong công tác chuyên môn và đảm nhiệm các công việc đòi hỏi có chuyên môn và trình độ nghiệp vụ cao, chủ trì các hoạt động khoa học & công nghệ.
Giáo sƣ - GV cao cấp có nhiệm vụ giảng dạy đại học, bồi dƣỡng sau đại học, hƣớng dẫn nghiên cứu sinh, bồi dƣỡng cán bộ giảng dạy về nghiệp vụ và chuyên môn, nghiên cứu thực nghiệm khoa học, chủ trì các đề tài cấp Nhà Nƣớc và cấp Bộ quản lý, chủ trì biên soạn giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, nghiên cứu, báo cáo khoa học. - Giảng viên kiêm chức: GV đƣợc bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo hoặc kiêm nhiệm các công tác quản lý, đảng, đoàn thể có nghĩa vụ tham gia giảng dạy. GV kiêm chức vụ có nhiệm vu nhƣ GV, GV chính nhƣng chỉ dành một phần thời gian công tác cho giảng dạy còn lại là thời gian chủ yếu (từ 70% trở lên) dành cho một nhiệm vụ đƣợc giao nào đó của nhà trƣờng nhƣ quản lý ở các phòng, ban, khoa, …trong trƣờng. - Giảng viên thỉnh giảng: là cán bộ, chuyên viên, GV ở các cơ quan khác, cán bộ nghỉ hƣu, doanh nghiêp hoặc diện tự do đƣợc nhà trƣờng mời tham gia giảng dạy theo những chuyên đề, khoá học ngắn hạn, môn học, thƣờng đƣợc ký các hợp đồng thời vụ, ngắn hạn.
17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phân loại giảng viên theo học vị - Học vị Cử nhân: là một học vị dành cho những ngƣời đã tốt nghiệp đại học thuộc các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và nhân văn, sƣ phạm, luật, kinh tế (cử nhân khoa học, cử nhân kinh tế, cử nhân luật. Thời gian đào tạo của chƣơng trình đào tạo cử nhân thƣờng là 4 năm. Trong khi đó, sinh viên tốt nghiệp đại học thuộc các ngành kỹ thuật đƣợc cấp bằng kỹ sƣ; ngành kiến trúc đƣợc cấp “bằng kiến trúc sƣ”; ngành y đƣợc cấp “bằng bác sĩ” hoặc “bằng cử nhân”; ngành dƣợc cấp “bằng dƣợc sĩ” hoặc “bằng cử nhân”. - Học vị Thạc sĩ: Những ngƣời có trình độ thạc sĩ là những ngƣời có trình độ chuyên ngành vững chắc, nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc ngành, chuyên ngành đƣợc đào tạo.
Sau khi đƣợc học nâng cao và cùng với kinh nghiệm làm việc đã tích lũy đƣợc, họ sẽ có thêm kiến thức liên ngành và năng lực thực hiện công tác chuyên môn cũng nhƣ NCKH trong chuyên ngành đào tạo.