Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ 1.1 Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nghề 1.1 Một số khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm nghề Trước công cuộc Đổi mới năm 1986, khái niệm nghề chủ yếu gắn với công việc thuộc phạm vi nhà nước. Do đó, những người được coi là nghề nếu người đó là cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, chuyển sang nền kinh tế thị trường, sức lao động được thừa nhận là hàng hóa thì quan niệm cũng như các khái niệm về nghề cũng đã có sự thay đổi. Theo đó, khái niệm nghề được hiểu là tập hợp các hoạt động chuyên môn làm theo yêu cầu của xã hội và nhu cầu sinh sống của con người, không phân biệt thuộc biên chế nhà nước hay không thuộc biên chế nhà nước.
Trong xã hội hiện đại, khái niệm nghề gắn với các đặc điểm sau: - Nghề là một công việc chuyên làm, là phương tiện sinh sống chủ yếu gắn với cả cuộc đời, phần lớn hoặc một phần cuộc đời người lao động - Nghề bao gồm cả lao động trí óc và lao động chân tay - Nghề phải phù hợp với yêu cầu, chuẩn mực xã hội - Nghề phải gắn với những kiến thức và kỹ năng Từ những đặc điểm trên có thể hiểu: Nghề là một thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động trong xã hội theo sự phân công mà con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra sản phẩm vật chất, tinh thần cho xã hội. Con người thông qua việc hành nghề để duy trì, phát triển cuộc sống cá nhân đồng thời góp phần xây dựng đất nước. Trong nền kinh tế thị trường có sự hoạt động của thị trường sức lao động (nơi buôn bán sức lao động), thì sức lao động cũng được xem xét là một loại hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Trong đó giá trị và giá trị sử dụng 6 của hàng hóa sức lao động phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực, kỹ thuật và thái độ của người lao động.
Cụ thể là, người lao động có trình độ càng cao, kỹ năng càng thuần thục, thái độ lao động càng tận tâm thì giá trị và giá trị sử dụng của họ càng được đánh giá cao và ngược lại. Vì vậy, để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động thì không còn cách nào khác là người lao động cần không ngừng nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và xây dựng thái độ lao động tích cực. Tuy nhiên, những kiến thức, kỹ năng và thái độ đó không phải hình thành một cách tự nhiên mà là kết quả của một quá trình đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm.2 Khái niệm đào tạo Khái niệm đào tạo liên quan đến toàn bộ quá trình tác động vào người học làm cho người đó nắm vững những kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành một lĩnh vực hay nghề nghiệp cụ thể. Qua đó giúp người học tích lũy kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp một cách có hệ thống, có khả năng đảm nhiệm được một công việc cụ thể.
Từ cách hiểu trên thì khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục. Đào tạo chỉ sự giáo dục chuyên sâu khi người học đã đạt đến một độ tuổi và có một trình độ học vấn nhất định. Từ điển Bách Khoa Việt Nam định nghĩa mục tiêu của đào tạo là “Để trở thành người hiểu biết, có nghề nghiệp” [25]. Ngoài việc cung cấp tri thức chung thì phần lớn quá trình đào tạo cung cấp cho người học kiến thức liên quan đến một lĩnh vực hay kỹ năng thực hành một nghề nghiệp cụ thể nhằm chuẩn bị cho người đó đảm nhận một sự phân công lao động xã hội nhất định.3 Khái niệm đào tạo nghề Quan điểm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho rằng: “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học thực hành được một nghề trong xã hội”.
Theo đó, quan điểm này nhấn 7 mạnh tới mục tiêu cuối cùng của quá trình đào tạo nghề việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 nước ta quy định “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Trong khái niệm này, mục tiêu của ĐTN được xác định không chỉ là giúp người lao động tìm được việc làm mà còn là “tự tạo được việc làm”, điều này nhấn mạnh và đề cao sự chủ động của người lao động. Sau khi hoàn thành quá trình ĐTN, người học không chỉ có cơ hội được một doanh nghiệp, tổ chức tiến hành tuyển dụng mà hoàn toàn có thể tự chủ, tự kiến tạo nên việc làm và xây dựng nên cơ sở sản xuất - kinh doanh của mình.
Điều này vừa trực tiếp khẳng định chất lượng ngày càng cao của ĐTN vừa thể hiện ý nghĩa nhân văn, tôn trọng và đề cao sự chủ động người lao động. Như vậy: Đào tạo nghề là thuật ngữ để chỉ quá trình truyền thụ các kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp theo những tiêu chuẩn chuyên môn nghề nghiệp nhất định, khiến cho người tham gia quá trình đào tạo có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề, sau khi hoàn thành quá trình đào tạo có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo được việc làm, tạo ra được thu nhập nuôi sống bản thân, gia đình và đóng góp vào sự phát triển xã hội. Mục tiêu chung của ĐTN là “nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức; sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn”.4 Khái niệm chất lượng * Chất lượng hiểu theo quan điểm tuyệt đối Chất lượng là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latin là “quails” và tiếng Pháp “qualitie”, đều có nghĩa là “mức độ tuyệt hảo”. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, một sự việc.
Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt chúng với những sự vật khác” [25]. Theo tác giả Thái Duy Tuyên (2001), “Chất lượng là mức độ tốt, sự xuất sắc, cái tạo nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật, phạm trù triết học biểu thị cái bản chất nhất của sự vật, mà nhờ đó có thể phân biệt sự vật này với sự vật khác”[36]. Như vậy, chất lượng theo quan điểm tuyệt đối đồng nghĩa với “chất lượng tốt, chất lượng cao”, có thể được đánh giá, đo lường, so sánh bằng các đặc điểm về tính năng, phẩm chất. Đây là quan điểm “ tĩnh” về chất lượng, vì tiêu chuẩn chất lượng được coi là cố định và tồn tại trong một thời gian dài.
* Chất lượng hiểu theo quan điểm tương đối Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), tập I định nghĩa “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Yêu cầu ở đây được hiểu là nhu cầu hay là mong đợi đã được công bố hoặc ngầm hiểu của các bên quan tâm như các tổ chức và khách hàng”[25]. Theo tác giả Nguyễn Đức Chính (2002) “Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu” [30]. Tác giả Nguyễn Kim Định (2010) cho rằng “Chất lượng là sự đáp ứng với mục tiêu đã đặt ra và mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội” [23].
Với những quan điểm này, một sản phẩm, dịch vụ được xem là chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà nhà sản xuất định ra và các yêu cầu mà người tiêu thụ đòi hỏi. Đây cũng là quan điểm “động” về chất 9 lượng, do nhu cầu luôn có sự thay đổi, đòi hỏi chất lượng cũng luôn cần có sự cải tiến. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng, nhưng nhìn chung có thể rút ra một số điểm chung như sau: Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì một lý do nào đó không được nhu cầu chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém.
Do chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng. Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng các quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, do đó chất lượng sản phẩm có khi chỉ có thể cảm nhận hoặc được phát hiện trong quá trình sử dụng.5 Khái niệm chất lượng đào tạo nghề Từ điển Giáo dục học đưa ra khái niệm “Chất lượng ĐTN là kết quả của quá trình ĐTN được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành cụ thể” [18]. Tác giả Mạc Văn Tiến (2005) cho rằng “Chất lượng ĐTN đối với mỗi con người nói chung là: Có sức khỏe tốt, năng lực hoạt động hiệu quả và biết quan hệ xã hội ứng xử đúng đắn” [34]. Theo Nguyễn Thị Tính (2001), “Chất lượng giáo dục, đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đề ra đối với một chương trình giáo dục - đào tạo;… chất lượng là kết quả của quá trình giáo dục - đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực thực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo ở các ngành cụ thể” [35].
10 Từ các khái niệm trên, có thể thấy để đánh giá chất lượng ĐTN thông qua sản phẩm đầu ra của quá trình ĐTN.