Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Tác giả nêu lên lý do chọn đề tài, giới thiệu tổng quan đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài và bố cục của đề tài. Trong chương này tác giả trình bày các khái niệm, phân loại NNLTDC, các tiêu chí đánh giá NNLTDC, các nhân tốt tác động đến đào tạo và phát triển NNLTDC và mô hình nghiên cứu đề xuất. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả đạt được Trong chương này, tác giả trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu định tính, thiết kế nghiên cứu định lượng. Trong chương này, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu thông qua phần mềm SPSS 20.0 với các nội dung: mô tả mẫu qua sát, đánh giá thang đo, phân tích hồi quy đa biến, kiểm tra sự khác biệt của mô hình theo các đặc điểm cá nhân, thảo luận kết quả nghiên cứu.
Chương 3: Kết luận và một số hàm ý quản trị Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, trong chương này tác giả trình bày một số hàm ý quản trị nhằm hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển NNLTDC cho bảo dưỡng và vận ngành ngành điện khí tại Cà Mau trong thời gian tới. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) là “nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Trước hết với tư cách là nguồn lực cung cấp sức lao động cho xã hội. NNL với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Với cách hiểu này NNL tương với nguồn lao động”. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định (Trần Kim Dung, 2016). Theo Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh (2012), nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội.
Tóm lại, NNL là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức – tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.2 Khái niệm nguồn nhân lực trình độ cao NNLTDC là đội ngũ nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân lĩnh vực của mình vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang” bằng cách dẫn dắt những bộ phận 9 công nhân có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh (Phạm Minh Hạc, 2001). NNLTDC phải là nhân lực với bốn đặc trưng chính: có trí tuệ, nhân cách, tay nghề vượt trội và có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất so với mặt bằng chung phù hợp với nền kinh tế - xã hội hiện đại mang tính chất tri thức (Hồ Bá Thâm, 2003). Quan niệm nhân lực TDC để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề “về chuyên môn kỹ thuật” ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (Nguyễn Hữu Dũng, 2003. NNLTDC là bộ phận lao động xã hội có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao (Đỗ Văn Đạo, 2009).
NNLTDC là nhân lực đã qua đào tạo, có kiến thức tốt về một lĩnh vực công việc, thành thạo kỹ năng thực hiện công việc, có thể chất tốt và tiềm năng phát triển trong môi trường công việc để đáp ứng được các yêu cầu công việc hiện tại cũng như tương lai của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Ngày nay, NNLTDC còn được hiểu là vốn con người (Nguyễn Huy Trung, 2006).3 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là quản lý chiến lược đào tạo, phát triển và quản lý hoặc can thiệp giáo dục chuyên nghiệp, để đạt được các mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời vẫn bảo đảm đầy đủ việc sử dụng các kiến thức cụ thể và các kỹ năng của từng cá nhân người lao động. Phát triển nguồn nhân lực là lĩnh vực nghiên cứu và thực hành nhằm bồi dưỡng năng lực học tập về lâu dài, và có liên quan tới công việc của các cá nhân, 10 nhóm và các cấp tổ chức. Như vậy, nó bao gồm - nhưng không giới hạn tới - đào tạo, phát triển nghề nghiệp và phát triển tổ chức.
Phát triển NNL là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho NNL (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Phát triển NNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử. với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển NNL là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) NNL và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày càng hợp lý.
Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển NNL là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao.4 Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực trình độ cao Nguồn nhân lực trình độ cao là khái niệm để chỉ một con người, một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, đại học, cao đẳng, công nhân kỹ thuật lành nghề) (Nguyễn Hữu Dũng, 2002). Nguồn nhân lực trình độ cao là nhân lực đã qua đào tạo, có kiến thức tốt về một lĩnh vực công việc, thành thạo kỹ năng thực hiện công việc, có thể chất tốt và tiềm năng phát triển trong môi trường công việc để đáp ứng được các yêu cầu công việc hiện tại cũng như tương lai của tổ chức, cơ quan, đơn vị. Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao và giáo dục đào tạo là những thuật 11 ngữ có cùng nội hàm. Hai tác giả này định nghĩa phát triển nguồn nhân lực trình độ cao là làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định để tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc (Nadler & Nadler, 1990).
Đào tạo và phát triển NNLTDC là quá trình thay đổi về số lượng, cơ cấu, chất lượng của bộ phận nhân lực có TDC nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp cả trong hiện tại và tương lai, đồng thời nâng cao trình độ nghề nghiệp, cải thiện hiệu quả làm việc của nhân lực và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Nguyễn Phan Thu Hằng, 2017).5 Khái niệm về chất lượng đào tạo và chất lượng a, Đào tạo được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập, làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động của mình có hiệu quả hơn. Việc đào tạo nhằm đảm bảo cho người lao động làm việc đúng kỹ năng. Quản lý nguồn nhân lực có hiệu quả là đánh giá một cách nhất quán các kỹ năng và kiến thức của nhân viên để đáp ứng được các nhu cầu hiện tại và tương lai của doanh nghiệp.
Do đó trong các tổ chức, công tác đào tạo cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và có kế hoạch, đó là điều kiện quyết định tổ chức có thể đứng vững và thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Các quan niệm về chất lượng đào tạo Chất lượng luôn là vấn đề quan trong nhất của tất cả các cơ sở đào tạo, và việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất của bất kỳ nơi đào tạo nào. Mặc dù có tầm quan 12 trọng như vậy nhưng chất lượng vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường, và cách hiểu của người này cũng khác với cách hiểu của người kia. Chất lượng có một loạt định nghĩa trái ngược nhau và rất nhiều cuộc tranh luận xung quanh vấn đề này đã diễn ra tại các diễn đàn khác nhau mà nguyên nhân của nó là thiếu một cách hiểu thống nhất về bản chất của vấn đề.
Dưới đây là 6 quan điểm về chất lượng đào tạo. + Chất lượng được đánh giá bằng “Đầu vào” Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng “Chất lượng phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào”. Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = chất lượng.