CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƯ 1.
Một số khái niệm có liên quan 1. GDP, GRDP và GNI Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, trong một thời kì nhất định, thường là một năm. Phương pháp sức mua tương đương (PPP) do Liên hiệp quốc đưa ra cho phép có sự so sánh chuẩn về giá thực tế giữa các quốc gia. Tổng thu nhập quốc gia (GNI) là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ cuối cùng tạo ra của một quốc gia ở một thời điểm nhất định, thường là một năm.
GNI là thước đo tổng hợp nhất của thu nhập quốc dân. GNI phản ánh chủ nhân tạo ra và hưởng thụ nguồn của cải tạo ra. Để đánh giá quy mô nền kinh tế, người ta dùng GDP và GNI, còn để đánh giá thành tựu phát triển kinh tế và làm cơ sở so sánh chất lượng dân cư người ta dùng chỉ số GDP/người để làm chỉ tiêu so sánh, GDP/người để đánh giá GDP so với tổng số dân trung bình trong năm. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh giá trị mới tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trên địa bàn tỉnh/thành phố trong một thời gian nhất định (6 tháng, năm).
Cụm từ “hàng hóa và dịch vụ cuối cùng” được hiểu theo nghĩa là không tính giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ sử dụng ở các khâu trung gian trong quá trình sản xuất sản phẩm. Tổng sản phẩm trên địa bàn được tính theo giá hiện hành và so sánh. Thu nhập bình quân đầu người là chỉ tiêu được đánh giá thông qua tổng sản phẩm thu nhập quốc gia chia cho tổng số dân. Khái niệm nghèo đói và chuẩn nghèo Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu của con người được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của địa phương – ESCAP.
12 Để xác định hộ nghèo, người ta đưa ra các chuẩn nghèo theo từng năm phù hợp với thực trạng phát triển KT-XH địa phương. Chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2010-2016 tính theo thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của hộ gia đình được cập nhật theo chỉ số giá tiêu dùng như sau: Bảng 1. Chuẩn nghèo (nghìn đồng) của Chính phủ giai đoạn 2010–2016 (Nguồn: gso.vn) Năm Thành thị Nông thôn 2010 – 2012 500 400 2013 710 570 2014 750 605 2015 760 615 2016 780 630 Chuẩn nghèo được đưa ra có sự khác biệt qua các năm và giữa thành thị, nông thôn. Đây là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế không đồng đều giữa các khu vực và quá trình tăng trường về kinh tế, thu nhập qua các năm.
Chất lượng cuộc sống dân cư * Khái niệm chất lượng Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam (1995), chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với các sự vật khác. Theo quan điểm của triết học Mác–Lênin, chất lượng là tổng hợp những thuộc tính khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng nói lên nó là gì, làm cho nó khác với cái khác. Như vậy, có thể nói chất lượng là một khái niệm phản ánh giá trị, bản chất của các sự vật, hiện tượng được đưa ra đánh giá. Chất lượng càng cao nghĩa là giá trị, bản chất càng tốt và ngược lại.
* Khái niệm dân cư 13 Dân cư của một vùng là tập hợp những con người cùng cư trú trên một lãnh thổ nhất định (xã, huyện, tỉnh, quốc gia, châu lục hay toàn bộ trái đất). Chẳng hạn: dân cư Hà Nội, dân cư miền núi, dân cư Việt Nam…(Nguyễn Đức Tôn, 2015). Dân cư được xem là nhân tố chủ đạo, là mục tiêu phát triển cũng như nghiên cứu của khoa học. Tất cả các nghiên cứu, các chính sách, kế hoạch, … đều cùng mục đích phục vụ cho nhu cầu của dân cư.
Vì vậy, để có những chính sách, hướng đi đúng đắn cần thiết phải nắm rõ tính chất, tình hình dân cư để có những thay đổi phù hợp. * Khái niệm chất lượng cuộc sống dân cư CLCS là vấn đề đã được quan tâm từ rất sớm. Nếu như cuộc sống săn bắt hái lượm và sống tạm bợ trong các hang đá là hình thức chủ yếu thời nguyên thủy thì có thể thấy theo thời gian, những phát minh, những cuộc cách mạng thay phiên nhau ra đời với mục tiêu thay đổi cuộc sống con người theo chiều hướng tốt lên, ăn no hơn, mặc ấm hơn và cuộc sống ổn định hơn. Với sự thay đổi dần theo thời gian, từ một vấn đề về CLCS, người ta dần đưa ra các khái niệm về CLCS mà trong đó mang tính đặc thù của từng nơi, từng lúc.
Các nhà kinh tế chính trị cổ điển A, Smith, D, Ricardo, R, Malthus, J,S, Mill, v,v… đã đưa CLCS thành một vấn đề quan trọng trong các tác phẩm của mình. Việc thay đổi từ một vấn đề chung chung và chưa được phân tích thành những khái niệm, những định hướng, phương pháp nâng cao CLCS, có thể thấy việc xuất hiện trong các tác phẩm này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của CLCS đối với cuộc sống con người từ rất lâu rồi. R,C, Sharma, tác giả quyển “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” đã vận dụng các quan điểm tổng hợp và hệ thống một cách linh hoạt để phân tích bản chất của CLCS, chính là sự thỏa mãn một cá nhân trong xã hội, đồng thời phải có sự thỏa mãn trong toàn xã hội. Việc đảm bảo chất lượng cuộc sống không thể tách cá nhân ra khỏi tập thể, mà trong đó phải có sự thỏa mãn chung của tập thể mà từng cá nhân trong đó cũng hài lòng về cuộc sống của họ.
Ông cũng đưa ra khái niệm “Chất lượng cuộc sống là sự cảm giác được hài lòng (hạnh phúc) hoặc thỏa mãn với những nhân tố của cuộc sống, mà những nhân tố đó được coi là quan 14 trọng nhất. Thêm vào đó, chất lượng là sự cảm giác được hài lòng với những gì mà con người có được. Dù sự thỏa mãn, niềm hạnh phúc hay sự hài lòng là những định nghĩa trung tâm trong định nghĩa này, nhưng chúng ta không nên xem chúng như là một sự khẳng định mang tính chất nhất thời về niềm hạnh phúc hay sự hài lòng, mà chúng ta nên xem đó là kết quả sau cùng trong sự cảm giác của niềm hạnh phúc. Có thể giải thích đơn giản hơn đó là sự đầy đủ hay sự trọn vẹn của cuộc sống” (R.
Khái niệm này được chấp nhận rộng rãi, bởi những yếu tố cơ bản của chất lượng trong cuộc sống đã được đề cập tới cùng với đó là quan niệm bền vững về mặt thời gian đối với CLCS. Nối tiếp sự ra đời của các khái niệm chung về CLCS, các nhà nghiên cứu dần cụ thể hóa hơn chúng bằng những đặc trưng chi tiết. Trong đó, Wiliam Bell đã đưa ra 12 đặc trưng để đánh giá CLCS, cụ thể là: (1) An toàn thể chất cá nhân; (2) Sung túc về kinh tế; (3) Công bằng trong khuôn khổ pháp luật; (4) An ninh quốc gia; (5) Bảo hiểm lúc già yếu và đau ốm; (6) Hạnh phúc tinh thần; (7) Sự tham gia vào đời sống xã hội; (8) Bình đẳng về giáo dục, nhà ở, nghỉ ngơi; (9) Chất lượng đời sống văn hóa; (10) Quyền tự do công dân; (11) Chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế); (12) Chất lượng môi trường sống và khả năng chông ô nhiễm. Chỉ số HDI là một trong những chỉ số quan trọng và được dùng để đánh giá tổng quan về CLCS, là chỉ số do Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra với tên gọi Chỉ số phát triển con người.
HDI đo chất lượng cuộc sống trên 3 phương diện: - Tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh nhằm đánh giá sự lâu dài và khỏe mạnh của cuộc sống dân cư nơi đánh giá. - Tỉ lệ người biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp là chỉ tiêu để đánh giá tiêu chí kiến thức của dân cư. - Mức sống của con người được đánh giá thông qua tổng sản phẩm quốc nội bình quân trên người (GDP/người) và điều chỉnh theo phương pháp sức mua tương đương (PPP) nhằm làm hệ quy chiếu chung so sánh thành tựu giữa các quốc gia với nhau. 15 Chỉ số HDI tiện lợi trong việc đánh giá một cách tổng quan CLCS dân cư của nơi đánh giá, đồng thời đây cũng là thước đo chung để so sánh giữa những quốc gia.
Tuy vậy, chỉ số HDI không dùng để đánh giá CLCS dân cư ở phạm vi nhỏ. Tổng hợp các quan niệm liên quan đến CLCS, tác giả sử dụng khái niệm: “Chất lượng cuộc sống là mức độ đáp ứng của các yếu tố tự nhiên – xã hội đối với đời sống con người”, trong đó đặc biệt quan tâm đến các yếu tố về: lao động, thu nhập; lương thực, dinh dưỡng; giáo dục; y tế, chăm sóc sức khỏe; nhu cầu sống tối thiểu; mức hưởng thụ văn hóa; môi trường sống. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống dân cư CLCS dân cư chịu ảnh hưởng đồng thời bởi 3 nhóm nhân tố: vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và điều kiện KT-XH, các nhân tố này tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào CLCS dân cư, Trong đó, nhân tố KT-XH đóng vai trò quyết định. Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ Vị trí địa lí: sự ảnh hưởng của vị trí địa lí đến các đặc điểm tự nhiên quy định rõ nét cách thức hoạt động cũng như sự thích nghi của con người đối với tự nhiên nơi đây.
Song, yếu tố rõ nét mà vị trí địa lí tác động đến CLCS phản ảnh thông qua việc ảnh hưởng của vị trí đến hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa. Những vị trí thuận lợi trong hoạt động giao lưu về kinh tế, văn hóa tạo điều kiện cho người dân nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần và ngược lại. Phạm vi lãnh thổ phản ánh mức độ lớn, nhỏ của nơi phân tích.