Chương 1. Cơ sở lý thuyết về chất lượng công tác thanh tra kinh tế xã hội Chương 2. Phân tích thực trạng công tác thanh tra kinh tế xã hội tại Thanh tra tỉnh Bình Dương Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra kinh tế xã hội tại Thanh tra tỉnh Bình Dương 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG TÁC THANH TRA KINH TẾ XÃ HỘI 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm thanh tra Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, thanh tra là: kiểm soát xem xét tại ch việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp. Với nghĩa này, thanh tra bao hàm việc kiểm soát, xem xét và phát hiện ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra là hoạt động của một chủ thể có thẩm quyền: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi quyền hành của một chủ thể nhất định.
Trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước. Điều 8 Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 quy định nhiệm vụ của tổ chức thanh tra nhà nước là: thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, trừ hoạt động điều tra truy tố, xét xử của các cơ quan điều tra, kiểm sát, tòa án và việc giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế của các cơ quan trọng tài kinh tế. Theo kết quả nghiên cứu Đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước Hoàn thiện cơ chế thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước do TS. Trần Đức Lượng làm chủ nhiệm thì khái niệm thanh tra được xác định: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm kết luận đúng, sai, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân Theo PGS.
Phạm Ngọc Ánh, thanh tra được định nghĩa là hoạt động kiểm tra của tổ chức thanh tra Nhà nước đối với đối tượng thanh tra nhằm phát hiện, chấn chỉnh những sai lầm, xử lý những vi phạm trong hoạt động kinh tế xã hội giúp cho bộ máy quản lý vận hành tốt 8 Thanh tra được định nghĩa trong Luật Thanh tra năm 2004 dưới khái niệm thanh tra nhà nước. Theo đó Thanh tra nhà nước là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Về mặt pháp lý, theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010, thanh tra là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động thanh tra nhà nước.
Thanh tra được hiểu là hoạt động kiểm tra, xem xét đánh giá của cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của cơ quan, tổ chức và cá nhân. Thanh tra là một chức năng không thể thiếu của hoạt động quản lý, là một khâu của chu trình quản lý Nhà nước. Từ những khái niệm nêu trên, Thanh tra được hiểu như sau: Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Hoạt động thanh tra được thực hiện bởi cơ quan thanh tra chuyên trách hoặc cơ quan có chức năng thanh tra theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với nhà nước các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Khái niệm thanh tra nhà nƣớc (i) Thanh tra nhà nước Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực 9 hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. (ii) Thanh tra hành chính Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. (iii) Thanh tra chuyên ngành Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó.
Vị trí của thanh tra Thanh tra là một bộ phận hợp thành của chu trình quản lý nhà nước và là một bộ phận không thể tách rời của công tác quản lý. Công tác lãnh đạo, quản lý gồm 3 bộ phận cấu thành, đó là quyết định chủ trương, chính sách; tổ chức thực hiện chủ trương chính sách đã ban hành đó. Ở nước ta, theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, các cơ quan nhà nước có sự phân công rành mạch và phối hợp thực hiện giữa ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Do đó, thanh tra có vị trí nằm trong hệ thống các cơ quan thực hiện quyền hành pháp.
Theo quy định hiện hành, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các sở, Ủy ban nhân dân cấp huyện có các cơ quan thanh tra tương ứng là Thanh tra Chính phủ, Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh, thanh tra sở và Thanh tra huyện, m i cơ quan thanh tra chịu sự chỉ đạo trực tiếp, toàn diện của cơ quan hành chính cùng cấp về tổ chức, kế hoạch hoạt động, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan thanh tra cấp trên về chuyên môn nghiệp vụ và chương trình công tác. Trong đó, mối quan hệ với các cơ quan hành chính nhà nước là mối quan hệ mang tính chủ đạo. Vai trò của thanh tra Công tác thanh tra có vai trò quan trọng là một bộ phận hợp thành của công tác lãnh đạo chỉ đạo, phục vụ thiết thực cho sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và là một trong ba yếu tố quyết định sự thành công của đường lối, chủ trương, 10 chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vai trò của thanh tra thể hiện qua những điểm sau: Thanh tra là một trong những phương thức phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.
Công tác thanh tra góp phần phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, việc phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật sẽ có tác dụng hạn chế, răn đe và do đó có tác dụng phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ tài sản nhà nước, quyền và lợi ích của công dân. Thanh tra góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật. Qua hoạt động thanh tra, các cơ quan phát hiện những sơ hở trong cơ chế chính sách, pháp luật, hạn chế những hành vi tham nhũng, lãng phí, gian lận và cá hành vi vi phạm pháp luật khác. Các cơ quan thanh tra cũng phát hiện những điểm bất hợp lý, thiếu tính khả thi trong các quy định của pháp luật cũng như các thủ tục hành chính rườm rà, nhiều tầng nấc.
Qua đó kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách pháp luật, khắc phục kẽ hở của pháp luật, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật. Thanh tra góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Công tác thanh tra có vai trò quan trọng, là bộ phận hữu cơ của cơ quan quản lý nhà nước. Bởi quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà không có thanh tra, kiểm tra xem như không có quản lý.
Chức năng của thanh tra Từ việc khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của công tác thanh tra, hệ thống cơ quan thanh tra nhà nước được thiết lập với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể. Qua các giai đoạn lịch sử, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý nhà nước. Luật Thanh tra năm 2010 xác định hoạt động thanh tra có mục đích nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của 11 pháp luật; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.