phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục bảng biểu, hình vẽ và tài liệu tham khảo. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC CẤP SỞ 1. Lý luận chung về chất lượng công chức, viên chức cấp sở 1. Khái niệm công chức, viên chức cấp sở 1.
Khái niệm công chức Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [20]. Một số tiêu chuẩn, điều kiện công chức phải đáp ứng như sau: đủ 18 tuổi trở lên; có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; có đơn dự tuyển, lý lịch rõ ràng, có văn bằng, chứng chỉ phù hợp; có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Ngoài ra, công chức phải trải qua quá trình tập sự để làm quen với môi trường công tác, tập làm những công việc của vị trí việc làm được tuyển dụng. Khái niệm viên chức Căn cứ theo Điều 2 Luật Viên chức năm 2010 “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo các chế độ hợp đồng làm việc hoặc được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập” [21].
Vị trí việc làm là công việc hoặc là nhiệm vụ gắn liền với chức danh nghề nghiệp hoặc các chức vụ quản lý tương ứng cụ thể khác; đây là căn cứ xác định về số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập [21]. Chế độ hợp đồng đối với viên chức sẽ được ký một trong hai loại hợp đồng làm việc: Không xác định thời hạn và xác định thời hạn. Căn cứ theo 6 khoản 2 Điều 2 Luật sửa đổi Luật Viên chức năm 2019 quy định bao gồm 02 loại hợp đồng này được quy định như sau: Hợp đồng làm việc xác định thời hạn: Là hợp đồng hai bên ký kết xác định thời hạn và thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian từ 12 đến 60 tháng [21]. Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn: Là hợp đồng hai bên ký kết không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng [21].
Công chức, viên chức cấp sở Công chức cấp Sở là công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong các phòng, cơ quan, đơn vị trực thuộc Sở. Viên chức cấp sở là viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo các chế độ hợp đồng làm việc hoặc được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở. Đặc điểm và phân loại của công chức, viên chức 1. Đặc điểm của công chức, viên chức Với những sự phát triển mang tính lịch sử và chính trị, đội ngũ công chức, viên chức Việt Nam có một số đặc điểm riêng như sau: - Là một bộ phận nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm tổ chức Đảng, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể quần chúng; hệ thống hành chính nhà nước và lực lượng vũ trang… trong đó có công chức lãnh đạo, quản lý; công chức, viên chức chuyên môn, nghiệp vụ với những trình độ chuyên môn về ngành, lĩnh vực phù hợp.
- Đội ngũ CCVC tạo ra môi trường, điều kiện về mặt thể chế và pháp lý cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt, văn hoá, xã hội diễn ra bình thường thông qua các tác nghiệp thực thi công vụ thực hiện quản lý hành chính và không trực tiếp làm ra sản phẩm vật chất phục vụ nhu cầu xã hội. Có thể nói, mỗi CCVC là mỗi chi tiết cấu tạo nên cơ quan quản lý hành chính, 7 đội ngũ CCVC đóng vai trò quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, tác động sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi quan hệ xã hội. Chính vì vậy, việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CCVC luôn là nhiệm vụ quan trọng trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, nhất là trong bối cảnh hiện nay với sự hội nhập mạnh mẽ, toàn diện và đẩy mạnh cải cách hành chính. - Việc tuyển dụng công chức, viên chức, bổ nhiệm vào các chức danh, chức vụ và bổ nhiệm vào các ngạch công chức quy định cụ thể ở Luật Công chức, Luật Viên chức và phụ thuộc vào quy định riêng đối với các chức danh, chức vụ khác nhau và thuộc các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác nhau; ở các cấp khác nhau.
- Chế độ lao động: Công chức được biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Phân loại của công chức, viên chức a. Phân loại công chức: Công chức được phân loại theo 3 cách Theo quy định tại Điều 34 Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức được phân loại theo 02 căn cứ: - Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành: + Loại A: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp; + Loại B: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính; + Loại C: Người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên; + Loại D: Người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự và ngạch nhân viên.
- Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại thành: + Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; 8 + Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý [20]. Tuy nhiên, khi Luật Cán bộ, công chức được sửa đổi, bổ sung năm 2019 thì tại khoản 1 Điều 34 Luật này, “căn cứ vào ngạch công chức” đã được đổi thành “căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ”; Khoản 7 Điều 1 Luật năm 2019 đã thêm “ngạch khác” vào danh sách các ngạch công chức nên ngoài căn cứ vào 04 ngạch đã biết trước đây, công chức còn được phân loại theo ngạch khác. Do đó, căn cứ vào lĩnh vực ngành, nghề, chuyên môn, nghiệp vụ, công chức được phân loại theo ngạch công chức tương ứng với các ngạch chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự, nhân viên và ngạch khác. Căn cứ vào quy định đối tượng những người là công chức và đơn vị công tác, công chức gồm: công chức trong các cơ quan nhà nước; công chức xã phường thị trấn; công chức các cơ quan đoàn thể; công chức thuộc các cơ quan dân cử, cơ quan tư pháp và cơ quan lực lượng vũ trang.
Phân loại viên chức Theo Điều 3 Nghị định 115/2020/NĐ-CP của Chính phủ phân loại viên chức theo 02 tiêu chí: - Theo chức trách, nhiệm vụ, viên chức được phân loại như sau: + Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý; + Viên chức không giữ chức vụ quản lý là người chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập. - Theo trình độ đào tạo, viên chức được phân loại như sau: + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo tiến sĩ; + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo thạc sĩ; + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo đại học; + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo cao đẳng; + Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp có yêu cầu trình độ đào tạo trung cấp [12]. Vai trò của công chức, viên chức Trong một cơ quan, đơn vị, CCVC có vai trò là người tham mưu cho các nhà lãnh đạo, quản lý giải quyết các công việc, sự vụ, các vấn đề nảy sinh trong công việc theo quy định và trực tiếp tham gia xây dựng, ban hành các kế hoạch, chương trình, chính sách, nội dung hoạt động mang tính định hướng theo năm, trung hạn và dài hạn thuộc lĩnh vực chuyên môn, chuyên ngành được giao phụ trách hoặc các giải pháp cho sự đổi mới, phát triển của cơ quan, đơn vị. Vì vậy, chất lượng của CCVC sẽ ảnh hưởng đến chất lượng công tác tham mưu, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của những quyết định chỉ đạo, điều hành của nhà lãnh đạo, quản lý.
Trong bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước, CCVC là là lực lượng lao động nòng cốt, là người vận hành trực tiếp, tổ chức thực thi các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của cơ quan cấp trên, cùng cấp trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội và các chỉ đạo, quyết định của cơ quan, đơn vị công tác trong lĩnh vực chuyên môn. Như vậy, chất lượng của CCVC sẽ quyết định đến kết quả thực hiện, chất lượng và hiệu quả của việc thi hành các văn bản, các quy định, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực hiệu quả công tác quản lý, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước. Trong thực tiễn và trong mối quan hệ với người dân, CCVC là người truyền tải, hướng dẫn và trực tiếp giải quyết công việc của người dân, đồng thời, tiếp nhận, phản ánh và báo cáo tình hình thực tiễn để các cơ quan quản lý nhà nước có sự điều chỉnh, bổ sung và thay thế phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, góp phần quyết định đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo lập và tăng cường mối quan hệ, niềm tin giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.