phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo luận văn đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tƣ phát triển nông nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3 : Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát triển nông nghiệp ở tỉnh Quảng Bình Chƣơng 4 : Định hƣớng và giải pháp đẩy mạnh thu hút vốn đầu tƣ phát triển nông nghiệp tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các công trình nghiên cứu về vốn đầu tư phát triển kinh tế- xã hội nói chung Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung, 2008. Giáo trình kinh tế phát triển. Hà Nội, Nhà xuất bản Đại học kinh tế quốc dân. Trong cuốn sách này có chƣơng về vốn với phát triển kinh tế.
Trong chƣơng này, các tác giả đã trình bày các vấn đề lý luận chung về vốn đầu tƣ đó là:1) Khái niệm; 2) Vai trò của vốn đối với tăng trƣởng và phát triển kinh tế; 3) Các yếu tố tác động đến cầu vốn đầu tƣ; 4) Các nguồn hình thành vốn đầu tƣ (tiết kiệm trong nƣớc, tiết kiệm ngoài nƣớc); 5) Các phƣơng pháp tạo lập nguồn vốn đầu tƣ ( khuyến khích huy động vốn từ tiết kiệm tƣ nhân, khai thác các nguồn lực nhàn rỗi, hoàn thiện hệ thống thuế, phát triển các tổ chức trung gian tài chính, kiểm soát lạm phát). Tuy nhiên, công trình này chƣa đề cập đến vấn đề tự do hoá thị trƣờng tiền tệ, tăng cƣờng các cơ hội đầu tƣ ở các nƣớc đang phát triển. Những nhận thức mới về chính sách huy động vốn cho đầu tƣ phát triển. Tạp chí Tài chính và tiền tệ, số 6.
Trong bài viết này, tác giả cho rằng cần xác định mục tiêu và giải pháp thích hợp nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn các nguồn lực tài chính trong nƣớc và nƣớc ngoài, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nƣớc. Những nhận thức mới là: Thực hiện chính sách tiết kiệm chống lãng phí để tích luỹ vốn phục vụ nhu cầu đầu tƣ phát triển; tạo môi trƣờng thuận lợi để thu hút nguồn vốn đầu tƣ trong nƣớc và nƣớc ngoài; gắn chặt công tác huy động vốn với việc sử dụng vốn trên cơ sở lựa chọn các dự án đầu tƣ có hiệu quả. Huy động vốn đầu tƣ phải gắn chặt 4 z với sự phát triển của thị trƣờng tài chính; đổi mới phƣơng thức thu hồi vốn các công trình hoàn thành để tập trung vốn nhanh cho đầu tƣ phát triển. Hoàng Xuân Quế, 2005.
Đa dạng hoá kênh huy động vốn cho đầu tƣ và giải pháp về vốn cho tăng trƣởng kinh tế. Tạp chí kinh tế và dự báo, số 11. Tác giả cho rằng trong quá trình chuyển động của nền kinh tế theo xu hƣớng hội nhập, ngƣời dân ngày càng có nhiều sự chủ động và linh hoạt lựa chọn các kênh khác nhau để đầu tƣ vốn của mình của mình chứ không phải hầu nhƣ chỉ gửi ngân hàng lấy lãi nhƣ các năm trƣớc. Các kênh đầu tƣ vốn đang đƣợc ngƣời dân lựa chọn: 1) Mua bảo hiểm nhân thọ, 2)Đầu tƣ mua cổ phần trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, 3) Đầu tƣ mua cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán, 4) Đầu tƣ kinh doanh dƣới nhiều hình thức, nhiều quy mô, 5)Đầu tƣ cho ngƣời thân đi xuất khẩu lao động, 6) Đầu tƣ vào bất động sản.Để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế, tác giả đƣa ra các giải pháp: 1) Nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng thƣơng mại và tổ chức tín dụng; 2) Ngân hàng nhà nƣớc nên linh hoạt hơn nữa các công cụ điều hành chính sách tiền tệ; 3)Ngân hàng nhà nƣớc tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ tài chính trong điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tài chính.
Trần Minh Tuấn, 2011. Thu hút và sử dụng ODA trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tạp chí thông tin và dự báo kinh tế- xã hội, số 64. Trong bài viết này tác giả đã: 1) Đánh giá thành tựu thu hút ODA của Việt Nam giai đoạn 2005-2010; 2) Hạn chế trong thu hút ODA: tỷ lệ giải ngân vốn ODA thấp, chất lƣợng một số công trình sử dụng vốn ODA chƣa đảm bảo, các văn bản pháp quy về ODA chƣa đƣợc thực hiện đầy đủ; 3) Nguyên nhân của những hạn chế là: do nhận thức và cách hiểu về bản chất của ODA chƣa đƣợc chính xác và đầy đủ, sự không hài hoà ( chồng chéo) trong các thủ tục chuẩn bị đầu tƣ và triển khai, cơ cấu tổ chức và năng lực cán bộ quản lý và thực hiện các dự án ODA còn yếu, cơ quan thụ hƣởng ODA chƣa phát huy đầy đủ vai trò làm chủ 5 z trong việc khai thác nguồn lực này phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội phù hợp với nguồn vốn đặc thù của nguồn vốn ODA; 4)Một số đề xuất, kiến nghị: gắn kết và lồng ghép một cách đồng bộ chiến lƣợc, kế hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA với các chiến lƣợc phát triển kinh tế ngành, vùng và quốc gia, có biện pháp sử dụng tốt hơn nguồn vốn ODA và có định hƣớng phân bổ ODA hợp lý; Việt Nam cần tính toán nguồn trả nợ vốn ODA.
Mai Ngọc Cƣờng,(chủ biên), 2000. Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI)ở Việt Nam.Trong nghiên cứu này tác giả đã phân tích những chính sách trong nƣớc có tác động mạnh đến quá trình thu hút FDI, cũng nhƣ đề xuất các biện pháp tổ chức thu hút FDI. Theo tác giả cần tiếp tục nghiên cứu và triển khai thực hiện phân cấp việc cấp phép đầu tƣ, giải quyết những vấn đề sử dụng đất đai, những ƣu đãi và khuyến khích về tài chính, về chính sách tiền lƣơng của ngƣời lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Tuy nhiên những đề xuất này đã đƣợc giải quyết phần lớn trong luật đầu tƣ nƣớc ngoài trong năm 2000, luật đất đai năm 2003.
Hơn nữa việc nghiên cứu của tác giả tập trung cho cả nƣớc và thời gian nghiên cứu mới chỉ đến năm 1999. Vƣơng Đức Tuấn, 2007. Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hà Nội giai đoạn 2001-2010, Luận án tiến sĩ. Luận án đã góp phần hệ thống hoá và góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế chính sách thu hút FDI ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng.
Đã phân tích thực trạng việc hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI và tác động của nó đối với sự tăng trƣởng kinh tế - xã hội của Hà Nội. Trên cơ sở phân tích thực trạng cơ chế, chính sách thu hút FDI, luận án đã đúc kết, chỉ ra những hạn chế, tồn tại cần phải hoàn thiện cơ chế chính sách thu hút FDI của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Từ đó, luận án đã đề xuất phƣơng 6 z hƣớng, các giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tăng cƣờng thu hút FDI vào Hà Nội cho đến năm 2010. Thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ kinh tế, TP Hồ Chí Minh. Luận văn đã đƣa ra một số giải pháp thu hút dòng vốn FPI thông qua thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, đã đƣa ra các phƣơng pháp để phân tích tác động của dòng vốn FPI đến GDP và vai trò của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đối với quy mô thị trƣờng vốn nhằm đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hội nhập. Vai trò của viện trợ phát triển chính thức (ODA) trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Luận án tiến sĩ, viện kinh tế Việt Nam.
Tác giả đã khái quát những vấn đề lý thuyết về ODA, phân tích, đánh giá một số tác động của ODA đối với tăng trƣởng kinh tế Việt Nam, đồng thời đƣa ra những chính sách tăng cƣờng thu hút ODA cho tăng trƣởng kinh tế Việt Nam. Quy mô vốn đầu tƣ phát triển, Thời báo kinh tế Việt Nam: kinh tế 2013-2014- Việt Nam và thế giới. Trong bài viết này, tác giả nghiên cứu những nội dung liên quan đến quy mô vốn đầu tƣ phát triển ở Việt Nam. Trong đó có nội dung cơ cấu vốn đầu tƣ theo các nhóm ngành.
-Tỷ trọng vốn đầu tƣ vào nhóm ngành nông, lâm, thủy sản thấp và giảm dần. Thấp khi so với tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành này. Phần vốn ngoài nhà nƣớc thấp bởi nông nghiệp bị tác động nhiều của thiên tai, dịch bệnh, thu hôì vốn chậm, đối tƣợng cho vay nhỏ lẻ nằm rải rác trên địa bàn rộng. Phần vốn tích luỹ tái đầu tƣ tự có của nông dân thấp (Khi năng suất lao động chỉ đạt 26,8 triệu đồng/ năm- chỉ đủ để tái sản xuất sức lao động và một phần ngƣời ăn theo).
Tỷ trọng vốn đầu tƣ vào nông nghiệp lại càng thấp nếu trừ đi phần đầu tƣ cho việc xây dựng, tu bổ hệ thống đê điều, chống lũ bão. là những lĩnh vực không chỉ của nông nghiệp. Đầu tƣ cho nông nghiệp là thấp so với vị trí của một nƣớc xuất phát từ nông nghiệp đi lên, nông thôn còn 7 z chiếm 70% dân số, nông nghiệp còn chiếm gần một nửa tổng số lao động. Đầu tƣ cho nông nghiệp thấp và giảm dần trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là trọng điểm số một của công cuộc CNH,HĐH đất nƣớc.
- Việc tăng tỷ trọng vốn đầu tƣ vào nhóm ngành dịch vụ trong thời gian qua là đúng hƣớng. Tuy nhiên, tỷ trọng đầu tƣ cho nhóm ngành này hiện cao hơn nhiều so với tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành này ( trên 50% so với 43%), trong khi năng suất lao động của nhóm ngành này thấp hơn nhóm ngành công nghiệp- xây dựng (chỉ bằng 74,6%) Nguyễn Văn Dũng, 2014. Huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế- xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Việt Nam giai đoạn 2010-2020, luận án tiến sĩ, Học viện khoa học xã hội.