Chương 1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu. Đặc điểm và sự phân hóa các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Đánh giá kinh tế sinh thái các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định và định hướng không gian sử dụng đất bền vững.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CUU 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Nghiên cứu về don vị đất đai và hệ thống sử dụng đất dai 1. Đơn vị đất dai Đơn vị đất đai là một khái niệm khoa học được đề cập trong các công trình của các nhà khoa học nông nghiệp, lâm nghiệp, địa lý.
Trong khoa học nông nghiệp quan niệm “PVDD là một khoanh đất vat đất được xác định trên bản đồ ĐVĐĐ hoặc trên thực địa dựa trên những đặc tính và tính chất cua đất đai” [85, 86] được xem là phô biến nhất trong đánh giá đất đai.Theo đó, mỗi DVDD được cấu thành bởi các chỉ tiêu có thé định lượng được như thé nhưỡng, độ dốc, lượng mưa. là những yếu tố phản ánh nhu cầu SDP va sự thích hợp của các loại SDĐ. Quan niệm về DVDD (and unit) được dé cap nhiéu trong các nghiên cứu về HTSDĐ [17, 88, 89] và được xác định là một hợp phan tự nhiên quan trọng, là yếu tố nền của HTSDĐ. Các chỉ tiêu xác định DVDD được xem xét mang tính tổng hop bao gồm: địa hình, thổ nhưỡng, nhiệt độ, điều kiện ánh sáng, khả năng tưới.
là những chỉ tiêu tin cậy để chỉ ra sự phù hợp của các loại cây trồng và phục vụ cho quy hoạch, SDD bền vững. Dưới góc độ dia lý, theo Zonneveld (1989), DVDD là một quan niệm cơ bản trong sinh thái học cảnh quan và được định nghĩa là “một vùng đất đồng nhất về sinh thái theo quy mô lãnh thổ” [137]. Các yếu tố chính của DVDD bao gồm địa hình, thé nhưỡng và thảm thực vật và những thay đôi của các yêu tố này do con người tác động. Cũng theo Zonneveld, thé nhưỡng là nhân tố chủ đạo khi lập bản đồ DVDD, việc xác định ranh giới thé nhưỡng cần phải xem xét kỹ các yếu tố địa hình (trong đó nhấn mạnh vai trò của địa mạo), khí hậu và thảm thực vật trên đất.
Trong các nghiên cứu về cảnh quan, phức hợp “địa mạo thé nhưỡng” - đơn vị địa mạo - thé nhưỡng được cấu thành bởi những yếu tố tương tự với các thành phan của DVDD [19], do đó khi nghiên cứu DVDD tập trung chính vào 2 chỉ tiêu chính địa mạo và thé nhưỡng, thì DVDD còn được gọi là don vi dia mạo - thổ nhưỡng [25]. Trong nghiên cứu đánh giá về đất lâm nghiệp, quan niệm về “lập địa - site unit” về ban chất đồng nghĩa với DVDD. Các yếu tô của lập địa bao gồm khí hậu, địa hình, thô nhưỡng được phân cấp và đánh giá mức độ thích hợp cho các loại rừng trồng [17]. Ngoài ra còn có thuật ngữ “sinh thái cảnh” được tác giả Phạm Quang Anh (1985) sử dụng trong công trình nghiên cứu “Hệ sinh thái cà phê Đắc Lắc” [1].
Qua phân tích các công trình nghiên cứu cho thay, quan niệm về DVDD khá đa dạng, với các tên gọi khác nhau: “đơn vi đất đai”, “đơn vị địa mạo - thổ nhưỡng”, “lập địa” hay “sinh thái cảnh”. Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra được các chỉ tiêu cầu thành DVDD là những nhân tố hữu cơ và vô cơ gắn liền với quá trình hình thành nên đất đai và cả những thay đôi do tác động của con người. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu chưa làm rõ được mối quan hệ của các chỉ tiêu, chưa phân cap DVDD và chưa chỉ ra việc xác định số lượng các chỉ tiêu tương ứng với các cấp phục vụ thành lập bản đồ DVDD theo đa quy mô lãnh thé và mục tiêu nghiên cứu. Hệ thống su dụng đất * Về khái niệm và cấu trúc hệ thống sử dụng đất Hệ thống sử dụng đất (HTSDĐ - Land use system) được nghiên cứu từ khá sớm bởi Cục Khoa học đất Hoàng gia Anh.
Cơ quan nay đã phân chia lãnh thé thành các khoanh vi có điều kiện, tính chất đồng nhất và đánh giá cho mục đích phát triển trồng trọt, nông nghiệp. Mặc dù vậy, DVDD và HTSDD chưa được định nghĩa cụ thể [103]. Năm 1976, FAO công bố “Khung đánh giá dat dai” [88] đã đánh dau bước tiễn mới trong đánh giá đất đai phục vụ SXNN. Những tài liệu tiếp đó do FAO xuất bản như “Đánh giá dat dai cho nông nghiệp nhờ mưa” (1983); “Đánh giá đất dai cho nông nghiệp có tưới” (1985); “Đánh giá đất dai cho lâm nghiệp ” (1984); “Đánh giá đất dai cho mục tiêu phát triển ” (1990); “Đánh giá dat dai và phân tích hệ thống nông trại cho quy hoạch sử dụng dat” (1992); “Khung quốc tế dé đánh giá quản lý đất dai bên vững ” (1993) [129] đã dần hoàn thiện thêm lý luận, phương pháp và quy trình đánh giá đất cho các mục đích sử dụng và quản lý đất đai.
Năm 2007, FAO công bố “Khung đánh giá dat dai sửa doi” nhằm thúc đây việc sử dụng đánh giá đất dai cho bảo tồn đa dạng sinh học, giảm thiêu carbon, mô hình hóa nông nghiệp và môi trường, phân tích hệ sinh thái nông nghiệp và sự tham gia của các bên liên quan, đồng thời cũng tính đến giám sát tính bền vững của môi trường nông nghiệp [90]. HTSDD được đề cập lần đầu tiên trong công trình “Đánh giá dat dai cho phát triển nông nghiệp” của K. Beek (1978) [77], theo đó HTSDĐ được hình thành từ sự kết hợp giữa DVDD với loại SDD. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, đánh giá đất đai dựa trên HTSDĐ được xem là cách tiếp cận đầy đủ hơn, cho phép ngoại suy dễ dàng các kết quả đánh giá đất để nghiên cứu hệ thống canh tác và QHSDĐ.
Đây chính là xuất phát điểm, là nền móng, tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về HTSDĐ trên thé giới. David Dent & Anthony Young (1981) trong công trình “Khảo sát thé nhưỡng và đánh giá dat dai” đã đề xuất mô hình cấu trúc HTSDD thé hiện được mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa DVDD và loại SDD, cùng với các yêu tố đầu vào của hệ thống như vốn, lao động, kỹ thuật. Đầu ra của hệ HTSDĐ gồm năng suất, thu nhập và chất lượng môi trường [84]. Loại sử dụng đất Đơn vị bản đồ đất đai (Land utilization type) (Land mapping unit) Cai tao dat (Land improvement) Năng suất, thu nhập m (Outputs) Hình 1.1: Cấu trúc hệ thong sử dung dat theo Dent và Young, 1981 Một khái niệm khác cho rằng “HTSDD là sự kết hợp của loại SDD với điều kiện đất đai tạo thành hai hợp phần tác động lẫn nhau, từ tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng về mức độ và các loại chi phí đầu tư, mức độ và loại cải tạo đất đai và năng suất, sản lượng của loại SDĐ”I85].
HTSDD không phải là một HTSDD khép kín ma là một hệ thống con của một hệ thống lớn hơn, thê hiện sự phân cấp của các HTSDĐ khác nhau theo cấu trúc và quy mô của HTSDĐ. Đầu vào môi trường, ví dụ: - Bức xạ, lượng mưa - Chất dinh dưỡng, - Lao động Le Tác động môi trường, ví dụ: - Xói mòn, ô nhiễm không khí - Tích tụ muối - Ô nhiễm dat và nước - Mat đa dạng sinh hoc - Sâu bệnh Hình 1. Mô hình cấu trúc kinh tế - môi trường của hệ thống sử dụng đất theo K. Trần Văn Tuấn, Nguyễn Cao Huan va Đỗ Thị Tài Thu (2015) [62] khang dinh HTSDD là hệ thống tự nhiên - nhân tác bao gồm một hợp phan dat dai và một hợp phần SDĐ tác động qua lại lẫn nhau bởi dòng vật chất và năng lượng.
Hợp phần đất đai như một phụ hệ thống tự nhiên là các đặc tính, tính chất đất của DVDD như thé nhưỡng, độ dốc, thành phan cơ giới. Hợp phần SDD của HTSDĐ như một phụ hệ thống nhân tác là các loại SDĐ, mỗi loại hình có những thuộc tính, đặc điểm liên quan tới hoạt động sản xuất của con người. Sự tương tác chặt chẽ giữa đặc tính đất đai và loại SDĐ trong một HTSDĐ quyết định đến số lượng và chất lượng của sản phẩm dau ra của hệ thông. Hệ thong su dung dat cũng được xem như một địa hệ tương đồng với “cảnh quan nhân sinh” (CQNS) trong cảnh quan học, thậm chí theo quan điểm của Zonneveld (1995) cảnh quan” được coi đồng nghĩa với “dat đai” (land) theo khía cạnh phản ánh một hệ thống tự nhiên và nhân sinh tổng hợp (Hình 1.3) [137] với các thuộc tính về tự nhiên (địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, hải văn, thổ nhưỡng, sinh vật) và nhân sinh (lớp phủ SDĐ, hạ tầng cơ sở, các công trình kiến trúc của con người, di tích văn hóa, lịch sử.
Với cách tiếp cận lấy đất đai làm đối tượng trung tâm trong nghiên cứu sinh thái cảnh quan, Zonneveld (1995) đề xuất một hệ thống phân loại đất đai gồm 4 cấp: sinh thái cảnh (ecotope) => diện dat dai (land facet) => hệ thong dat 10 dai (land system) => cảnh quan tổng thể (main landscape). Do đó, cảnh quan có tính ứng dụng cao trong công tác đánh giá và QHSDD. ĐẶC TÍNH ĐẤT BAT KHÍ QUYỂN THỰC VẬT, ĐỘNG VẬT, CON NGƯỜI (= Sinh quyển & Trí quyển) ĐỊA HÌNH THỔ NHƯỠNG (Thổ quyển) ĐÁ MẸ (Thạch quyển) ĐƠN VỊ ĐẤT ĐAI SINH THÁI CẢNH DIA MAO THO NHƯỠNG. HỆ THỐNG ĐẤT ĐAI P.
CẢNH QUAN Hình 1. Cau trúc cảnh quan nhân sinh theo Zonneveld -1995 Nguồn [137] Nguyễn Cao Huan & Trần Anh Tuấn (2002) đã phân loại CQNS gồm lớp, kiểu, phụ kiểu và loại. Nguyễn Đăng Hội (2004) phân loại CQNS ở Kon Tum thành lóp, kiểu và loại. Do đó, có thé vận dụng các phương pháp luận, chỉ tiêu, cấp phân loại trong nghiên cứu CQNS dé xem xét mối quan hệ tương hỗ giữa các hợp phan trong HTSDĐ, giữa các HTSDD với nhau một cách hệ thống và toàn diện hơn.
* Về nghiên cứu phân loại các HTSDĐ Các công trình nghiên cứu về HTSDĐ nông nghiệp trên thế giới chủ yếu đề cập đến mặt phân loại theo chế độ nước tưới trong canh tác (có tưới và nhờ mưa) hoặc phân cấp theo đối tượng loại SDD như trồng trọt, chăn nuôi. Tổng quan về đánh giá kinh tế sinh thái hệ thống sử dung dat cho phát triển nông nghiệp bền vững 1. Đánh giá kinh tế sinh thái 11 Kinh tế sinh thái (ecological economics) nghiên cứu sự tương tác và phát triển của kinh tế và hệ sinh thái tự nhiên theo thời gian và không gian [136].