Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ SỰ THAY ĐỔI TRONG NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN. Quản lý sự thay đổi trong xã hội hiện đại Thay đổi không phải là một khái niệm mới nhưng trước đây có rất ít người quan tâm nghiên cứu về vấn đề này, do đó không hề có một cách hiểu thống nhất về sự thay đổi. Cac-mac cũng đã từng nói về sự thay đổi nhưng chỉ xét nó dưới góc độ nguyên lý phát triển và ông thừa nhận rằng mọi sự vật và hiện tượng luôn vận động và phát triển không ngừng. Đây cũng chính là cách thừa nhận sự thay đổi là tất yếu của cuộc sống.
Heralitut nhà triết học cổ đại người Hy Lạp cũng đã từng nói rằng “ Mọi sự vật đều tồn tại, mâu thuẫn và không ngừng thay đổi và bất cứ sự vật nào cũng đều tồn tại bằng cách phá bỏ một cái gì đó”. Sự thay đổi là một quá trình diễn ra thường xuyên liên tục, vừa mang tính tích cực, song cũng không thể tránh khỏi những thiệt hại thay đổi mang lại. Nhận thức được sự thay đổi để từ đó biết làm chủ được sự thay đổi, nhằm hạn chế những rủi ro mà thay đổi mang lại.Khái niệm về quản lý sự thay đổi Khi nói đến sự thay đổi cần phải hiểu đó là sự thay đổi của tất cả mọi quá trình, cải tổ một cách chủ động nhằm mục đích tạo ra sức cạnh tranh lớn hơn cho doanh nghiệp, cho tổ chức, ngành, vùng. Từ việc áp dụng khoa học công nghệ mới những bước chuyển dịch có tính chất chiến lược, tổ chức lại dây chuyền sản xuất liên kết hoặc hợp nhất với các doanh nghiệp khác, tái cơ cấu các bộ phận kinh doanh đến nỗ lực tối ưu hóa phong cách văn hóa tập đoàn [9, tr.
Sẽ thật sai lầm nếu duy trì những tư tưởng bảo thủ chống lại sự thay đổi, bởi điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta đang từng bước dấn sâu vào con đường dẫn đến sự sụp đổ. Trọng tâm của mỗi cuộc cải tổ chính là 6 z sự thay đổi trong nguyên tắc, đời sống và trong công việc hàng ngày và đem lại những bước phát triển mới. Tuy nhiên để những thay đổi tích cực ấy thực hiện được thì đó lại là cả một quá trình gian nan đặt lên vai của những nhà quản lý. Sứ mệnh của họ là phải nắm bắt được sự thay đổi và điều chỉnh nó theo hướng có lợi cho tổ chức.
Chỉ khi đó họ mới có thể đưa tổ chức của mình đạt tới đỉnh cao của sự phát triển. Thay đổi có thể bắt đầu rất nhanh nhưng cũng có thể nhanh chóng biến mất. Vấn đề không hẳn nằm ở tiền hay nguồn lực đầu tư cho sự thay đổi đó mà nằm ngay trong đầu những người thực hiện sự thay đổi. Nói cách khác, nằm ở kỹ năng của nhà quản lý trong việc thực hiện thay đổi.Vậy tại sao lại phải thay đổi? Bởi vì thay đổi trước hết để giữ được thế cân bằng đồng thời tạo ra cơ hội đề làm phong phú cho sự phát triển một cách lâu dài và bền vững.
Có rất nhiều nguyên nhân của sự thay đổi,ví dụ nguyên nhân từ xã hội: xu hướng tiêu dùng…., nguyên nhân từ kinh tế: toàn cầu hóa, cổ phần hóa các công ty, các doanh nghiệp nhà nước, nguyên nhân về công nghệ: internet, mobilephone… Chúng ta có thể nhận biết được sự thay đổi và quản lý sự thay đổi như thế nào cho hợp lý và phù hợp với điều kiện phát triển của từng quốc gia, từng khu vực, từng ngành và từng lĩnh vực. Chúng ta có thể nhận biết được sự thay đổi từ bên trong: thay đổi thường xuất phát từ cấp cao nhất…, thay đổi từ đối thủ cạnh tranh: sản phẩm mới, hạ giá thành sản phẩm…, thay đổi từ môi trường xung quanh: pháp lý, các nhà đầu tư, khách hàng… Người ta phân loại sự thay đổi thành hai loại: + Thứ nhất: Thay đổi từ từ: tái cấu trúc… + Thứ hai: thay đổi tức thì: chính sách an toàn… Từ sự phân loại sự thay đổi trên có thể chọn lựa sự thay đổi bằng cách tập trung vào một vài quy trình thật sự cần thiết, có thể ưu tiên thay đổi ở những 7 z lĩnh vực chính, sau đó hãy tập trung theo diện rộng hơn và quan trọng nhất là phải có mục tiêu rõ ràng. Từ đó có thể thiết lập các mục tiêu cụ thể: - Quy trình thay đổi nên được bắt đầu với những tuyên bố rõ ràng và chi tiết về các mục tiêu mà bạn muốn vươn tới. - Các mục tiêu này nên được trình bày trong bối cảnh tình hình thực tế và liên quan với mục đích chung của tổ chức.
Như vậy, thay đổi là sự vận động không ngừng của sự vật và hiện tượng, vì vậy cần phải quản lý sự thay đổi để hạn chế những rủi ro. Quản lý sự thay đổi là việc tiếp cận một cách có hệ thống nhằm đối phó với những thay đổi của sự vật và hiện tượng. Quản lý sự thay đổi gồm ba quá trình: + Thích ứng sự thay đổi; + Kiểm soát sự thay đổi; + Tác động đến sự thay đổi. Để quản lý sự thay đổi cần phải thực hiện qua nhiều bước.
Nội dung quản lý sự thay đổi Quản lý sự thay đổi phải tuân theo 6 bước dưới đây, nó sẽ hạn chế được những biến động xấu nói chung trong thời gian diễn ra một thay đổi nào đó, đồng thời đảm bảo việc thay đổi đạt được kết quả tốt nhất: Bước 1: Thiết lập các mục tiêu cụ thể: Quy trình thay đổi nên được bắt đầu với những tuyên bố rõ ràng và chi tiết về các mục tiêu muốn vươn tới. Các mục tiêu này nên được trình bày trong bối cảnh tình hình thực tế và liên quan với mục đích chung. Bước 2: Tổ chức và Lên kế hoạch: Để quá trình thay đổi tiến hành thuận lợi, cần phải có khả năng và những nguồn lực (tài lực và nhân lực) nhằm phát triển cũng như truyền tải một cách hiệu quả các kế hoạch thiết kế/tái thiết kế và lịch trình diễn ra trên 8 z thực tế, trong khi vẫn duy trì sự cân bằng giữa một tầm nhìn bao quát và các hoạt động thường nhật. Việc sắp xếp lại cấu trúc tổ chức thường chỉ diễn ra trong giai đoạn quá độ, nhưng lại chiếm một vị trí quan trọng trong cả quá trình và thường được xem như một thách thức trong bầu không khí của sự thay đổi.
Bước 3: Giao tiếp: Những giao tiếp hiệu quả, cung cấp được lượng thông tin đầy đủ và kịp thời về các nội dung khác nhau luôn rất cần thiết trong giai đoạn thay đổi. Các kênh thông tin càng đa dạng, thì nguồn thông tin càng được tiếp cận nhanh hơn, thông tin càng có độ tin cậy cao hơn và mau chóng dẫn đến hành động hơn. Bằng các phương tiện giao tiếp rõ ràng, một quy trình hành động trong thời gian diễn ra sự thay đổi sẽ được xác định, những thông tin thích hợp sẽ được cung cấp và các mục tiêu sẽ được đáp ứng. Bước 4: Động viên: Động cơ làm việc là sự thúc đẩy hướng đến hành động.
Đây là khái niệm khá phức tạp tùy thuộc vào mỗi cá nhân, tập thể, nhà quản lý, và vào sản phẩm/dịch vụ mà tổ chức cung cấp. Các chuyên gia cho rằng mức độ tình cảm của mỗi cá nhân hay tập thể hướng tới lãnh đạo – người “tiếp nhiên liệu” cho động cơ làm việc của họ - sẽ xác định công suất làm việc của cá nhân hay tập thể đó. Mọi thứ sẽ càng trở nên lý tưởng hơn, nếu có sự hợp tác trọn vẹn của tất cả những cá nhân hay tập thể có ảnh hưởng trực tiếp tới quy trình thay đổi. Bước 5: Đào tạo nguồn nhân lực: Phát triển con người nên được coi là mục tiêu hàng đầu.
Việc phát triển đội ngũ nhân lực hiện tại trong suốt thời gian chuyển tiếp còn giữ vai trò thiết thực hơn, vì nó sẽ ảnh hưởng lâu dài đến tương lai. Các nhà lãnh đạo của chương trình cải cách cần có đủ năng lực và quyền hành để tạo ra môi trường và cơ hội cho người lao động thể hiện chính mình, đồng thời khuyến khích mọi người tự thân phát triển. 9 z Bước 6: Đánh giá và Phân tích: Các nhà quản lý không chỉ có trách nhiệm theo dõi, đánh giá và phân tích cả các quy trình diễn ra sự thay đổi, mà còn phải kiểm tra từng cá nhân. Mỗi người lao động đều phải biết rõ về những thay đổi trong công việc hiện tại của họ, đồng thời họ cũng cần được hướng dẫn để có thể thực thi các công việc, nhiệm vụ mới.
Cần phải xác định một cách rõ ràng các mốc thời gian quan trọng của cả quá trình, khi giai đoạn phát triển kết thúc và những hành động bắt đầu. Sự phát triển, khác với sự thay đổi, là một quy trình được thực thi trong hoàn cảnh tương đối ổn định. Sự thay đổi tự thân đã bao hàm ý nghĩa bất ổn, nhưng đây lại là quãng thời gian tạo ra nhiều tài năng, đặc biệt trong thời kỳ quá độ, những người lao động có khả năng sẽ bắt đầu toả sáng. Sự phát triển của xã hội tác động đến sự thay đổi trong phương thức sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn.
Nhận thức về hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn 1. CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn - Công nghiệp hóa: Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về công nghiệp hóa. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, "công nghiệp hóa là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong công nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động". Từ khái niệm chung về công nghiệp hóa đó, có thể hiểu "công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình xây dựng nền sản xuất cơ khí lớn trong toàn ngành nông nghiệp, dẫn tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động" [2, tr.
10 z “Công nghiệp hóa là quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng kinh tế hay một nền kinh tế. Đó là tỷ trọng về lao động, về giá trị gia tăng, v. Đây là quá trình chuyển biến kinh tế-xã hội ở một cộng đồng người từ nền kinh tế với mức độ tập trung tư bản nhỏ bé (xã hội tiền công nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp. Công nghiệp hóa là một phần của quá trình hiện đại hóa.