phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng công chức cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lượng công chức cấp xã của huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh nâng cao chất lượng công chức cấp xã ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ N NG CAO CHẤT LƢỢNG C NG CHỨC CẤP 1. Một số hái niệm cốt lõi 1. Khái niệm công chức Công chức là người thực hiện các hoạt động công vụ. Nhưng thực tế, thuật ngữ công chức cũng không được định nghĩa một cách thống nhất.
“Công chức” là thuật ngữ được phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan Nhà nước và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, do đặc thù của từng quốc gia nên quan niệm về công chức ở các nước không hoàn toàn thống nhất. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, công chức không chỉ bao gồm nhân viên chính quyền liên bang (chính phủ, quốc hội), chính quyền địa phương, tòa án, quân đội, mà còn cả nhà giáo, nhân viên bảo hiểm xã hội và các tập đoàn nhà nước (Ngân hàng trung ương…). Tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, công chức bao gồm những người làm việc trong ngành hành chính của Chính phủ Hoa Kỳ được bổ nhiệm về chính trị như: Bộ trưởng, Thứ trưởng, Trợ lý bộ trưởng, người đứng đầu bộ máy độc lập và những người liên quan chức nghiệp làm việc trong Hành pháp.
Tại Philippin, công chức được hiểu là người làm việc cho chính phủ để thực hiện các dịch vụ công tại các cơ quan quyền lực nhà nước và các đơn vị trực thuộc. Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi năm 2019, thì: "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của 12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” 1. Khái niệm công chức cấp xã Mặc dù đều thuộc nội hàm công chức nói chung, nhưng khái niệm công chức cấp xã lại được pháp luật quy định riêng, bên cạnh khái niệm công chức. Điều này xuất phát từ cơ sở hình thành nguồn công chức cấp xã trước đây cơ bản là do dân bầu, xã cử, công tác tuyển dụng chưa được chú trọng.
Theo Khoản 3, điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 thì: “công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Từ đó có thể thấy, khái niệm công chức cấp xã có những điểm khác so với khái niệm công chức. Trong khi công chức cấp xã chỉ được hình thành từ nguồn tuyển dụng và bố trí ở cơ quan chính quyền thì công chức nói chung còn được hình thành qua cơ chế bổ nhiệm và được bố trí cả ở các cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội. Công chức cấp xã được quy định rõ chức danh, áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước.
Cụ thể, có 07 chức danh công chức cấp xã được quy định tại Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008 gồm: “Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội". 13 Từng chức danh công chức sẽ được bố trí theo một số lượng cụ thể trong tổng số lượng cán bộ, công chức được giao. Trong đó nhiều nhất, một đơn vị hành chính được giao 23 cán bộ, công chức (cấp xã loại 1); 21 cán bộ, công chức (cấp xã loại 2) và 19 cán bộ, công chức (cấp xã loại 3). Số lượng nêu trên bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã; các xã đã bố trí Trưởng Công an xã là công an chính quy thì số lượng cán bộ, công chức quy định nêu trên giảm 01 người.
Căn cứ quy định trên, tùy vào tình hình thực tế tại địa phương, UBND cấp tỉnh sẽ quyết định số lượng từng chức danh công chức được giao để làm cơ sở cho các UBND cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện. Khái niệm chất lượng công chức cấp xã Hiện nay, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về “chất lượng”. Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau. Các chuyên gia kỹ thuật cho rằng: Chất lượng sản phẩm là một hệ thống các đặc tính kinh tế - kỹ thuật nội tại của các sản phẩm được xác định bằng các thông số có thể so sánh được.
Quan niệm này chỉ chú ý đến một mặt là kỹ thuật của sản phẩm mà chưa chú ý đến chi phí và lợi ích của sản phẩm. Còn theo các nhà sản xuất lại cho rằng: Chất lượng của một sản phẩm nào đó là mức độ mà sản phẩm đó thể hiện được những yêu cầu, những chỉ tiêu thiết kế hay những chỉ tiêu cho sản phẩm ấy. Quan niệm này cũng chưa chú ý tới mặt kinh tế. Theo Nguyễn Tiệp: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ánh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống, dân trí của dân cư.” Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (International Organization for Standardization): “Chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng 14 yêu cầu”.
Khái niệm chất lượng được Viện ngôn ngữ học định nghĩa trong từ điển Tiếng Việt do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2006 như sau: “ Chất lương là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc”. Chất lượng là khái niệm đặc trưng cho khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù trình độ công nghệ sản xuất ra có hiện đại đến đâu đi nữa. Đánh giá chất lượng cao hay thấp phải đứng trên quan điểm người tiêu dùng.
Cùng một mục đích sử dụng như nhau, sản phẩm nào thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cao hơn thì có chất lượng cao hơn. Tóm lại, chất lượng là sự đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu dựa trên những đặc tính nhất định vốn có của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Với cách tiếp cận khái niệm “chất lượng” đã phân tích ở trên, chúng ta có thể tiếp cận vấn đề “chất lượng công chức cấp xã” như sau: Chất lượng công chức cấp xã trước tiên là toàn bộ những yếu tố nội tại mà bản thân người công chức có bao gồm: M t l phẩm chất chính trị, Hai là, trình độ chuyên môn, Ba là, thái độ trong thi hành công vụ B l kỹ năng nghiệp vụ. Chất lượng của công chức cấp xã thực chất là đội ngũ đó phải đạt tối thiểu những tiêu chuẩn quy định được công bố.
Chất lượng công chức cấp xã là tổng hợp các tiêu chí về: các tiêu chuẩn do Nhà nước quy định; khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao và mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức được hưởng các dịch vụ do đội ngũ công chức cấp xã tạo ra. Tuy nhiên khác với việc cung cấp sản phẩm hàng hóa thông thường, sản phẩm do công chức cấp xã cung cấp là dịch vụ hành chính công - sản phẩm 15 phục vụ hoạt động quản lý nhà nước. Vì vậy khi nhìn nhận, đánh giá theo tiêu chí này cần xem xét một cách khách quan cả những yêu cầu về mặt pháp luật vì nhiều khi yêu cầu của người dân đối với công chức nằm ngoài phạm vi của họ hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra trong yêu cầu đổi mới nền công vụ hiện nay thì yêu cầu trong giao tiếp như nhiệt tình, cởi mở, chu đáo của công chức khi tiếp xúc với nhân dân cũng là yếu tố đánh giá mức độ hài lòng của họ.
Vì vậy, muốn xác định chất lượng công chức cấp xã ngoài việc đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, yêu cầu phải có tiêu chí đánh giá trình độ, năng lực đáp ứng công việc và sự tín nhiệm, hài lòng của nhân dân. Từ các quan niệm trên, với đề tài nghiên cứu về nâng cao chất lượng công chức cấp xã, ta có thể định nghĩa: C ất lượ ứ ấ xã là ả tạ từ ứ ượ t ể ệ ế t ư ẩ ất í t t t ỹ ệ ụ. Khái niệm nâng cao chất lượng công chức cấp xã Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng (2006) "Nâng cao là làm cho cao hơn, làm cho ở mức tốt hơn". Và nội dung về nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cũng đã được thể hiện qua các văn bản, Nghị quyết của Đảng, tiêu biểu như: Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2015 của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác; kết hợp việc đào tạo, bồi dưỡng với thực hiện luân chuyển để rèn luyện trong thực tiễn.