phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã. Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã của huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức cấp xã của huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình. 13 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Các khái niệm cơ bản liên quan 1. Công chức, công chức cấp xã và đội ngũ công chức cấp xã 1. Công chức Công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái niệm công chức của các nƣớc cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nƣớc chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những ngƣời hoạt động quản lý nhà nƣớc.
Một số nƣớc khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những ngƣời thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và thƣờng gắn liền với sự hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nƣớc. Khái niệm công chức lần đầu tiên đƣợc nêu ra trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Quy chế công chức nhƣ sau: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dụng, giao giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”. Cùng với sự phát triển của đất nƣớc và nền hành chính nƣớc nhà, khái niệm công chức đã dần đƣợc quy định cụ thể hơn, chi tiết hơn.
Tuy nhiên, các khái niệm này vẫn chƣa phân định rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức. Đến năm 2008, Quốc hội nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12. Đây là bƣớc tiến mới, mang tính cách mạng 14 về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hoá quan điểm, đƣờng lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, Khoản 2 Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, xác định: “Công chức là công dân Việt nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt nam, Nhà nước, tổ chức Chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị công lập) trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.
Theo Điều 1 Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Nhƣ vậy công chức ở Việt Nam không chỉ là những ngƣời làm việc trong các cơ quan Hành chính nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc ở các Phòng Ban của Đảng, Mặt trận tổ quốc (MTTQ) Việt Nam; các tổ chức chính trị xã hội nhƣ: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội Cựu 15 chiến binh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam, các cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân, công an nhân dân, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân từ cấp trung ƣơng đến cấp huyện. Công chức cấp xã, đội ngũ công chức cấp xã Từ khái niệm công chức, chúng ta có thể khái quát: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Nhƣ vậy, công chức xã đƣợc tuyển dụng và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mƣu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc.
- Cơ cấu công chức cấp xã: Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: + Trƣởng Công an; + Chỉ huy trƣởng Quân sự; + Văn phòng - thống kê; + Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); + Tài chính - kế toán; + Tƣ pháp - hộ tịch; + Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý. Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. - Số lƣợng công chức cấp xã: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: Số lƣợng cán bộ, công chức cấp xã đƣợc bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 25 ngƣời, cấp xã loại 2 không quá 23 ngƣời, cấp 16 xã loại 3 không quá 21 ngƣời (bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã).
Đội ngũ công chức cấp xã Từ khái niệm công chức cấp xã, chúng ta có thể khái quát: Đội ngũ công chức cấp xã là tập hợp các công chức đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Bên cạnh những đặc điểm chung giống nhƣ công chức khác, do đặc thù hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã nên đội ngũ này có những đặc điểm đặc thù nhƣ: Thứ nhất, hầu hết đội ngũ công chức xã, phƣờng, thị trấn đều là ngƣời địa phƣơng, sinh sống tại địa phƣơng, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với ngƣời dân tại địa phƣơng đó. Công chức chính quyền cấp xã là những ngƣời xuất phát từ cơ sở, họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là ngƣời đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, giải quyết các công việc của nhà nƣớc. Do vậy, xét ở khía cạnh nào đó, công chức cấp xã bị chi phối, ảnh hƣởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phƣơng, của dòng họ.
Thứ hai, sản phẩm hoạt động của công chức cấp xã là các quyết định quản lý hành chính có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội và cục diện địa phƣơng. Vì vậy đòi hỏi ngƣời công chức phải có trình độ hiểu biết sâu rộng, có kỹ năng làm việc thuần thục trên lĩnh vực mà họ đảm nhiệm. Thứ ba, công chức cấp xã của cả nƣớc hiện nay rất đông, tuy nhiên về chất lƣợng lại rất yếu, độ tuổi tƣơng đối già. Hơn nữa, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ chủ chốt chính quyền cơ sở chƣa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý nhà nƣớc ở chính quyền cơ sở.
Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc của đội ngũ công chức cấp xã chƣa cao. Chất lượng và chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Chất lƣợng là một phạm trù trừu lƣợng, nó mang tính chất định tính và khó định lƣợng, chúng ta không thể cân đo đong đếm đƣợc. Dƣới mỗi cách tiếp cận khác nhau, quan niệm về chất lƣợng cũng khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, chất lƣợng đƣợc xem là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con ngƣời, một sự vật, một sự việc.
Đây là cách đánh giá một con ngƣời, một sự vật trong cái đơn nhất, cái độc lập của nó. Chất lƣợng của đội ngũ công chức cấp xã có thể hiểu là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân (khách hàng) về cung ứng các dịch vụ hành chính. Tiêu chí để đánh giá chất lƣợng công chức cũng đa dạng: có thể là tỷ lệ giải quyết hồ sơ đảm bảo đúng quy định về thời gian, quy trình, thủ tục; có thể là do sự đo lƣờng về mức độ thỏa mãn của ngƣời dân khi hƣởng thụ dịch vụ hành chính liên quan đến các yếu tố nhƣ sự hài lòng về thái độ phục vụ, sự hài lòng về thời gian giải quyết công việc của ngƣời dân…. Chất lƣợng công chức đƣợc đánh giá dựa trên tiêu chuẩn của đội ngũ công chức, là những quy định cụ thể các yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức…, của những ngƣời công chức theo những tiêu chí nhất định đối với từng ngành nghề riêng biệt.
Để đánh giá chất lƣợng công chức, cần nói tới chất lƣợng của mỗi công chức vì mỗi công chức là một phần, một bộ phận của công chức.