Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết Chương 2: Thực trạng chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công bố thông tin trong các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG CÔNG BỐ THÔNG TIN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT 1. Công bố thông tin 1. Khái niệm công bố thông tin CBTT là quá trình các doanh nghiệp, tổ chức tài chính tham gia trên thị trường chứng khoán (TTCK) công bố một cách chính xác, đầy đủ, kịp thời những thông tin về các hoạt động của thị trường, các thông tin có thể ảnh hưởng đến giá chứng khoán đến các nhà đầu tư thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các ấn phẩm của tổ chức, doanh nghiệp và các phương tiện thông tin của của Sở GDCK nhằm đảm bảo sự công bằng của giá chứng khoán và bảo vệ nhà đầu tư. Các tổ chức tham gia TTCK bao gồm: Tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng; Tổ chức niêm yết; Công ty chứng khoán; Công ty quản lý quỹ; Công ty đầu tư chứng khoán; và Sở GDCK.
Có hai phương thức CBTT chính: CBTT trực tiếp và CBTT gián tiếp. - CBTT trực tiếp: Các tổ chức có nghĩa vụ CBTT được quyền trực tiếp công bố ra công chúng qua các phương tiện thông tin đại chúng và phải đồng thời báo cáo lên các cơ quan quản lý và vận hành thị trường như Ủy ban chứng khoán Nhà nước, Sở GDCK. - CBTT gián tiếp: Các tổ chức khi tiến hành nghĩa vụ CBTT phải chuyển thông tin cần công bố tới các cơ quan quản lý và vận hành thị trường để các cơ quan này tiến hành xử lý các thông tin đó trước, sau khi được xử lý các thông tin này mới được công bố ra công chúng thông qua các phương tiện thông tin của chính cơ quan quản lý hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng khác. Nội dung và đo lường công bố thông tin 1.
Nội dung công bố thông tin Khuôn khổ QTCT phải đảm bảo việc CBTT kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và QTCT. Ở phần lớn các nước OECD, một lượng lớn thông tin bắt buộc và tự nguyện về các công ty cổ phần và doanh nghiệp chưa niêm yết lớn được thu thập và cung cấp tới các đối tượng quan tâm. Việc CBTT thường được thực hiện ít nhất là mỗi năm một lần hoặc có thể nhiều hơn khi có các sự kiện bất thường ảnh hưởng tới công ty. Hệ thống CBTT tốt là yếu tố then chốt trong giám sát doanh nghiệp dựa vào thị trường.
Nó góp phần quan trọng giúp cổ đông có thể thực hiện quyền sở hữu của mình cũng như bảo vệ quyền lợi cho các nhà đầu tư một cách hiệu quả. Hệ thống CBTT tốt sẽ tạo ra những tác động tích cực, giúp doanh nghiệp thu hút vốn và củng cố, nâng cao lòng tin của các nhà đầu tư đối với doanh nghiệp. Ngược lại, hệ thống CBTT yếu kém có thể dẫn đến các hành vi rủi ro đạo đức và làm mất đi tính trung thực của thị trường, gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp, cổ đông và thị trường. Các cổ đông và nhà đầu tư tiềm năng phải được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, tin cậy và có thể so sánh.
Điều này giúp cho nhà đầu tư có thể đưa ra những phân tích, đánh giá chuẩn xác về thực trạng của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định đúng đắn về giá trị, quyền sở hữu và biểu quyết của cổ phần. Việc CBTT không đầy đủ và thiếu minh bạch có thể làm tăng chi phí vốn và dẫn tới việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả. Bên cạnh đó, CBTT cũng góp phần nâng cao hiểu biết của công chúng, các nhà đầu tư về cơ cấu và hoạt động của doanh nghiệp, chính sách doanh nghiệp và hoạt động liên quan đến các tiêu chuẩn môi trường và đạo đức, quan hệ của doanh nghiệp với cộng đồng nơi doanh nghiệp hoạt động,. Các quy định CBTT không đặt gánh nặng hành chính hoặc chi phí lên doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp cũng không phải công bố các thông tin có thể gây bất lợi tới khả năng cạnh tranh của họ trừ phi việc CBTT là cần thiết để cung cấp thông tin đầy đủ cho quyết định đầu tư hoặc để tránh làm nhà đầu tư hiểu lầm. Để xác định thông tin nào cần công bố, nhiều quốc gia áp dụng khái niệm tầm quan trọng. Thông tin quan trọng là thông tin mà không công bố hoặc công bố sai có thể ảnh hưởng tới các quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin. Đo lường công bố thông tin Theo báo cáo của IFC (2012) (Công ty Tài chính Quốc tế, cơ quan thuộc Ngân hàng Thế giới), các Nguyên tắc QTCT của OECD là thước đo được công nhận toàn cầu về QTCT, đã được IFC sử dụng để xây dựng phiếu câu hỏi chấm điểm về vấn đề CBTT và minh bạch trong thẻ điểm QTCT của các DNNY tại Việt Nam.
Tổng cộng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng CBTT và minh bạch năm 2015 bao gồm 100 tiêu chí, được thiết kế dưới dạng câu hỏi. Có 50 câu hỏi mà mỗi mỗi câu được tối đa 1 điểm và 50 câu hỏi được tối đa 2 điểm. Theo cách tính này thì tổng điểm tối đa một DNNY có thể đạt được là 150 điểm. Các tiêu chí đánh giá được sắp xếp vào 5 nội dung QTCT theo nguyên tắc QTCT của OECD (2004), được trình bày trong Phụ lục 3.
Cụ thể, bao gồm: - Nguyên tắc A: Quyền của cổ đông; - Nguyên tắc B: Đối xử công bằng với cổ đông; - Nguyên tắc C: Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan; - Nguyên tắc D: CBTT và minh bạch; - Nguyên tắc E: Trách nhiệm của HĐQT và Ban kiểm soát. Trọng số của các chỉ tiêu đánh giá được áp dụng cho nhóm các câu hỏi thuộc các nguyên tắc QTCT và có tính tới thông lệ và đặc điểm QTCT của Việt Nam. Trọng số này đã được sử dụng bởi Tổ chức Tài chính Quốc tế - IFC (2012) khi công bố Thẻ điểm QTCT cho một số DNNY của Việt Nam năm 2012. Các tiêu chí được đánh giá theo các nguồn dữ liệu công bố.
Mỗi tiêu chí sẽ được đánh giá theo một nguồn dữ liệu nhất định được công bố công khai bởi DNNY trên các phương tiện thông tin đại chúng. Các tiêu chí này được phân làm hai nhóm: nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố QTCT. Trong nhóm nhân tố tài chính, gồm 5 khía cạnh: quy mô công ty, đòn bẩy tài chính, kết quả tài chính, tài sản đảm bảo, hiệu quả sử dụng tài sản. Trong nhóm nhân tố quản trị, gồm 3 khía cạnh: quyền sở hữu, cơ cấu HĐQT và quy mô của HĐQT.1: Điểm và trọng số của các nội dung theo nguyên tắc QTCT Số câu hỏi Điểm tối đa (Di max) Trọng số (Wi) Nguyên tắc A 17 26 0,15 Nguyên tắc B 11 15 0,20 Nguyên tắc C 3 4 0,05 Nguyên tắc D 47 73 0,30 Nguyên tắc E 22 32 0,30 Tổng 100 150 1,00 Nguồn: Tính toán và tổng hợp từ HNX (2015).
Tính tổng điểm có trọng số cho mỗi DNNY được thực hiện sau khi chấm và kiểm toán xong. Công thức tính và cách tính như sau: - Tính tổng điểm của các câu hỏi trong bảng hỏi theo từng nội dung của nguyên tắc QTCT (Di); - Tổng điểm của từng nội dung (Di) sẽ chia cho tổng số điểm tối đa (Di max) mà nội dung đó có thể đạt được. Bước này sẽ thu được tỷ lệ điểm đạt được ở từng nội dung; - Tỷ lệ đạt được ở từng nội dung sẽ được nhân với trọng số của từng nội dung (Wi); - Tính tổng tỷ lệ điểm gia quyền cho cả 5 nội dung sẽ được tổng điểm cho từng DNNY. Đây chính là điểm CBTT cho mỗi DNNY.
Công bố thông tin từ góc độ lý thuyết quản trị công ty Phần này sẽ làm rõ CBTT từ góc độ lý thuyết QTCT thông qua việc trình bày cụ thể các lý thuyết người đại diện, lý thuyết người quản gia, lý thuyết thể chế. Lý thuyết người đại diện Lý thuyết người đại diện (Agency theory) ra đời vào đầu những năm 70 của thế kỉ XX, khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau. Người ủy quyền (chủ sở hữu) giao phó công việc cho người đại diện thông qua một hợp đồng. Lý thuyết người đại diện cho rằng thông tin không cân xứng giữa cổ đông/ người sở hữu và người quản lý có thể dẫn tới các hành vi rủi ro đạo đức hoặc xung đột về lợi ích.
Giữa người ủy quyền và người đại diện trong hầu hết trường hợp luôn tồn tại thông tin không hoàn hảo về trạng thái và hành vi của các tác nhân, thông tin không cân xứng giữa các tác nhân mà thông thường người đại diện sẽ nắm nhiều thông tin hơn người ủy quyền về công việc mình phải làm. Sự tồn tại của các thông tin không hoàn hảo và thông tin không cân xứng này sẽ dẫn tới những hành vi cơ hội của người đại diện, làm phát sinh chi phí người đại diện. Chi phí người đại diện là những chi phí tiền tệ và phi tiền tệ mà các bên phải gánh chịu do sự cần thiết phải thiết lập hệ thống ràng buộc và kiểm tra. Chi phí người đại diện gồm ba bộ phận cấu thành: chi phí cho việc kiểm tra và động viên, chi phí nghĩa vụ và chi phí do mất mát phụ trội.
Trong đó, chi phí cho việc kiểm tra và động viên do người ủy quyền bỏ ra để kiểm tra, định hướng hành vi của người đại diện. Chi phí nghĩa vụ là những chi phí người đại diện gánh chịu để đảm bảo là mình không gây ra những hành động làm thiệt hại tới lợi ích của người ủy quyền hoặc để bồi thường cho người ủy quyền trong trường hợp cần thiết. Chi phí do mất mát phụ trội là phần chênh lệch không thể tránh được giữa kết quả hành động của người đại diện đối với người ủy quyền và kết quả của hành động thật sự vì mục đích tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền mang lại. Đối với các công ty cổ phần nói chung và DNNY nói riêng, có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quản lý.