CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa ước tính chiếm 95% các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên toàn thế giới, và ngày càng khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của mình, là trọng tâm phát triển kinh tế của các Quốc gia, đặc biệt là ở các thị trường mới nổi. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về đối tượng doanh nghiệp này.
Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ được đưa ra dựa trên sự phân chia theo tiêu chí về số lượng lao động, doanh thu hảng năm, tài sản, quy mô, đầu tư. Trong đó khá phổ biến là phân chia theo tiêu chí số lượng lao động. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngân hàng thế giới Hiện tại, Ngân hàng thế giới đưa ra một số tiêu chí để định nghĩa về đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ, theo đó, một doanh nghiệp được sếp vào đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đạt 2/3 các tiêu chí sau: Quy mô công ty Nhân viên Tài sản Doanh thu hàng năm Vừa < 300 nhân viên < $15 triệu < $15 triệu Nhỏ < 50 nhân viên < $3 triệu < $3 triệu Vi mô <10 nhân viên <$100.000 (Nguồn: Cẩm nang Kiến thức Dịch vụ Ngân hàng cho DNN&V của IFC) Tuy nhiên, tại mỗi quốc gia, định nghĩa về đối tượng doanh nghiệp này lại có sự khác nhau. Dưới đây là một số cách định nghĩa cụ thể hơn về doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới: Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hoa Kỳ Tại Hoa Kỳ, doanh nghiệp vừa và nhỏ là các doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 500 người (tính cho phần lớn hoạt động sản xuất và khai thác) và có doanh thu 4 hàng năm < $7 triệu đối với đa số các ngành không liên quan đến sản xuất.
Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Liên Minh Châu Âu Liên minh Châu Âu định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ là các công ty có từ 10 đến 250 nhân viên: Quy mô công ty Nhân viên Doanh thu hàng năm Quy mô vừa <250 nhân viên <€50 triệu Quy mô nhỏ <50 nhân viên <€10 triệu Quy mô vi mô <10 nhân viên <€2 triệu (Nguồn: Cẩm nang Kiến thức Dịch vụ Ngân hàng cho DNN&V của IFC) Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hoa Kỳ Thái Lan quy định doanh nghiệp vừa và nhỏ là các doanh nghiệp có số lượng lao động nhỏ hơn 200 người đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành sử dụng nhiều lao động và nhỏ hơn 100 người đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành sử dụng nhiều vốn. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Malaysia + Malaysia có định nghĩa khác về các doanh nghiệp vừa và nhỏ như sau: Quy mô công Dịch vụ, ICT, hoặc nông Sản xuất nông nghiệp ty nghiệp chủ yếu Quy mô vừa <150 nhân viên hoặc doanh <50 nhân viên hoặc doanh thu < $6.6 triệu thu < $1 triệu Quy mô nhỏ <50 nhân viên hoặc doanh <19 nhân viên hoặc doanh thu < $2 triệu thu < $200.000 Quy mô vi mô <5 nhân viên hoặc doanh <5 nhân viên hoặc doanh thu thu < $66.” Theo đó, tiêu chí ưu tiên là tổng nguồn vốn sẽ tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Cụ thể về các tiêu chí xác định doanh nghiệp thuộc đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ được xác dịnh như sau: Bảng 1.1: Tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp nhỏ và vừa Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Số lao Số lao Tổng Số lao nguồn Khu vực động động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ Từ trên Từ trên 20 Từ trên nghiệp và thủy sản trở xuống đồng trở 10 người tỷ đồng đến 200 người xuống đến 200 100 tỷ đến 300 người đồng người II.
Công nghiệp và 10 người 20 tỷ Từ trên Từ trên 20 Từ trên xây dựng trở xuống đồng trở 10 người tỷ đồng đến 200 người xuống đến 200 100 tỷ đến 300 người đồng người III. Thương mại và 10 người 10 tỷ Từ trên Từ trên 10 Từ trên 50 dịch vụ trở xuống đồng trở 10 người tỷ đồng đến người đến xuống đến 50 50 tỷ đồng 100 người người (Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009) 6 * Đặc điểm chung của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Đặc điểm của đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam như sau: - Quy mô vốn và tiềm lực tài chính còn thấp: Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam có quy mô vốn nhỏ và số lượng lao động ít. Theo quy định, doanh nghiệp vừa thường có số vốn từ 20 - 100 tỷ đồng (tương đương 1 - 5 triệu USD) sử dụng cao nhất 300 lao động; còn doanh nghiệp nhỏ chỉ có vốn nhiều nhất 20 tỷ đồng, sử dụng nhiều nhất 200 lao động. Hiện nay, tuy Quy mô vốn trung bình của khu vực DNN&V tăng lên đáng kể, nhưng số doanh nghiệp có vốn 500 tỷ trở lên chỉ dừng lại khoảng 1.500, chiếm khoảng 0,6% tổng số doanh nghiệp.
Phần lớn các DNN&V có tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn hoạt động ở mức thấp, nguồn vốn sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng. Với quy mô vốn thấp như vậy, hoạt động của các doanh nghiệp này hướng vào lĩnh vực trực tiếp phục vụ đời sống, những sản phẩm có sức mua cao, thị trưởng tiêu thụ là lớn, đáp ứng nhu cầu đời sống nhân dân. - Cơ cấu tổ chức đơn giản, chi phí thấp: Việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý là đơn giản, gọn nhẹ do đặc thù về quy mô vốn nhỏ hay số lượng lao động không nhiều. Người chủ doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc nắm bắt thông tin, quản lý điều hành, có sự gần gũi thường xuyên đối với các nhân viên do vậy các quyết định đến với người lao động nhanh hơn, hạn chế khâu trung gian, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.
- Dễ dàng trong việc thành lập do yêu cầu về vốn pháp định thấp, doanh nghiệp ít chịu rằng buộc về mặt pháp lý, yêu cầu quản lý đơn giản, … tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho các chủ thể khác nhau trong xã hội tham gia vào sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa dịch vụ, góp phần tạo nên sự đa dạng trong nền kinh tế. - Năng động nhạy bén và là đối tượng tạo ra hiệu quả đầu tư kinh tế cao: Với quy mô vừa và nhỏ, bộ máy quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các DNN&V sẽ dễ dàng tìm kiếm, và đáp ứng các yêu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hóa. Mặt khác, các doanh nghiệp thường có mối liên hệ trực tiếp với thị 7 trường và người tiêu thụ nên có phản ứng nhanh nhạy với sự biến động của thị trường, có thể phản ứng kịp thời, đáp ứng xu thế của người tiêu dùng. Hầu hết có hiệu quả đầu tư vốn là khá cao so với khu vực quốc doanh.
- Dễ dàng trong việc thay đổi công nghệ cũng như chuyển dịch cơ cấu hoạt động: Hiện nay, trên toàn cầu tính chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đang có sự chuyển hướng từ cạnh tranh giá cả sang cạnh tranh về chất lượng và công nghệ nên lợi thế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng trở nên rõ nét hơn. Với cơ sở kỹ thuật không lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể đổi mới linh hoạt, dễ dàng chuyển đổi sản xuất hoặc thu hẹp quy mô mà không gây ra những hậu quả nặng nề cho xã hội, đồng thời có thể kết hợp cả công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại. - Khả năng huy động vốn hạn chế: Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đủ điều kiện để tiếp cận và huy động vốn trên thị trường vốn, chủ yếu là vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, do hầu hết năng lực cạnh tranh yếu, khả năng quản lý kinh doanh kém; báo cáo tài chính còn sơ sài, chưa minh bạch, tính chất đối phó… nên chưa tạo được niềm tin đối với các tổ chức tín dụng, dẫn đến khó tiếp cận được vốn ngân hàng.
Vốn là khó khăn lớn nhất và cũng là điểm yếu nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo Hiệp hội DNN&V Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay những khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng đã đẩy khoảng 20% DNN&V vào tình trạng khó có thể tiếp tục hoạt động. Ngoài nhóm này, 60% DNN&V đang chịu tác động bởi những khó khăn chung của nền kinh tế nên sản xuất sút kém hoặc bị đình trệ. Chỉ có 20% DNN&V còn lại là ít bị ảnh hưởng và có thể trụ vững được (do ít phụ thuộc nguồn vốn vay và quản trị tốt).
- Bên cạnh những khó khăn về vốn, phần lớn DNN&V gặp trở ngại do năng lực cạnh tranh, năng lực điều hành và quản lý doanh nghiệp còn yếu; chủ yếu việc quản lý còn mang tính gia đình; Kỹ năng phân tích thị trường còn hạn chế nên năng lực cạnh tranh chưa cao, sản phẩm làm ra chất lượng còn thấp và khó có khả năng cạnh tranh cao so với sản phẩm nước ngoài; Các vấn đề liên quan đến chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật… chưa được xem trọng 8 dẫn đến tình trạng yếu kém và sai sót trong quá trình điều hành quản lý. - Về trình độ công nghệ, do phần lớn là các cơ sở thủ công "đi lên" hoặc có tiếp cận được khoa học, công nghệ nước ngoài thì cũng thuộc thế hệ lạc hậu. Ngoài ra, khả năng nhận biết về kinh doanh, văn hóa kinh doanh, trình độ xúc tiến và quảng bá thương mại cũng như lao động hoạt động trong khu vực này. cũng rất hạn chế.
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa trong ngân hàng thương mại * Khái niệm hoạt động cho vay Theo Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. * Đặc điểm cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa Công tác thẩm định đối với DNN&V mất nhiều thời gian và chi phí.